Thu, 12 / 2017 11:07 am | admin

Đề bài: Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học | Văn Mẫu

Bài Làm

Nói đến chức năng của văn học không thể kể thiếu 4 chức năng cơ bản dưới đấy bao gồm: chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí.

  1. Chức năng nhận thức:

Nói đến chức năng của văn học chắc chắn chức năng nhận thức sẽ luôn nằm ở vị trí "quán quân". Bởi chức năng này thể hiện ở vai trò phản ánh hiện thực của văn học. Văn học cần đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân loại từ xưa đến nay; về vẻ đẹp thiên nhiên ở nước mình và trên khắp thế giới.

Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Ăng-ghen cho rằng đọc tiểu thuyết của Ban-zắc, người ta có thể hình dung và hiểu về xã hội nước Pháp hơn là đọc sách của nhiều ngành khoa học xã hội cộng lại. Được như vậy là nhờ chức năng nhận thức của văn học.

Mặt khác, văn học còn giúp con người nhận thức về bản thân mình. Từ bao nhiêu thế kỉ nay, con người thường băn khoăn trước những câu hỏi lớn:

Loading...

“Mình từ đâu đến ?”; “Mình sống để làm gì?”; “Vì sao đau khổ; “Làm thế nào để sung sướng, hạnh phúc ?”… Toàn bộ văn học cổ kim, đông tây đều thể hiện sự tìm tòi, suy nghĩ không mệt mỏi của con người để giải đáp những câu hỏi đó. Ở nước ta, văn học dân gian và các tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tố Hữu… đều cho thấy cái gì là đáng yêu, đáng ghét trong xã hội, giúp chúng ta có khả năng phân tích, đánh giá để nhận ra chân giá trị của mỗi con người. Nguyễn Du miêu tả những cảnh đời, những số phận bị vùi dập, khổ đau để thấy khát vọng về quyền sống của cọn người mãnh liệt biết chừng nào. Văn học cách mạng thể hiện quàn điểm sống chết của nhiều thế hệ sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Thậm chí, từ những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống được nhà ván đưa vào tác phẩm cũng giúp người đọc soi mình vào đó để sống tốt hơn. (Đi đường, Tự khuyên mình, Ốm nặng – Hồ Chí Minh; Con cá chột nưa, Trăng trối – Tố Hữu…).

  1. Chức năng giáo dục:

Văn học nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn M.Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được chính mình, nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh trong con người một khát vọng hướng tới chân lí, biết đấu tranh với cái xấu, biết tìm tòi và hướng tới cái đẹp của con người và cuộc sống.

Như vậy, ngoài chức năng nhận thức, văn học còn có chức năng nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho con người. Văn học luyện cho người đọc thói quen cảm thụ tinh tế, mài sắc khả năng nhận ra cái thật, cái giả, cái thiện, cái ác trong cuộc sống.

Văn học nâng đỡ cho nhân cách, giúp hình thành nhân cách, giáo dục con người tình cảm đúng đắn, trong sáng, biết yêu cái tốt, ghét cái xấu, dám xả thân vì nghĩa và biết sống đúng đạo lí làm người. Đặc điểm của văn học là thông qua sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để khơi gợi, kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ để có hành động đúng. Mặt khác, văn học giúp con người tự giáo đục, tự hoàn thiện để sống tốt đẹp hơn, hữu ích hơn cho xã hội.

  1. Chức năng thẩm mĩ:

Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đặc điểm của hưởng thụ thẩm mĩ là nâng cao con người lên trên những dục vọng và lợi ích vật chất tầm thường. Đi vào thế giới của văn học, người đọc chia sẻ buồn vui, sướng khổ với nhân vật. Yêu kẻ này, ghét kẻ kia hoàn toàn không dính dáng gì đến lợi ích vật chất nào ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó văn học đem đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm.

Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời. Nhà văn chân chính là người có tâm hồn phong phú, đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn chân thành của mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, vỗ về người đau khổ, lên tiếng vạch trần cái xấu, cái ác, ca ngợi phẩm chất cao đẹp… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và hướng tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của người đọc.

Chức năng thẩm mĩ của văn học làm cho tầm vóc con người lớn hơn, đời sống tinh thần trong sáng, phong phú hơn. Nhưng sự hưởng thụ thẩm mĩ chỉ xuất hiện khi tác phẩm có nội dung sâu sắc và tính nghệ thuật cao, vì chỉ khi đó văn học mới bảo đảm thỏa mãn tối đa về mặt tinh thần cho người đọc.

  1. Chức năng giải trí:

Ngoài ba chức năng cơ bản trên, văn học còn có chức năng giải trí. Các tác phẩm văn học lành mạnh, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao sẽ đem lại sự thư giãn cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, góp phần tái tạo sức khỏe và duy trì niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không ít người có thói quen tốt là đọc sách và coi sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hằng ngày.

Các chức năng văn học nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ngay trong chức năng nhận thức đã có tính giáo dục. Muốn cho hiệu quả nhận thức và giáo dục đạt tới mức cao nhất thì cần phải thông qua đặc trưng thẩm mĩ. Ngược lại, chức năng thẩm mĩ không đơn thuần mang ý nghĩa duy mĩ mà phải phục vụ cho việc thể hiện tốt hai chức năng nhận thức và giáo dục. Tất cả các chức năng ấy tạo thành tác dụng to lớn của văn học trong việc không ngừng hoàn thiện phẩm chất cao quý của con người.

Chức năng của mỗi sự vật, hiện tượng là vai trò của nó trong đời sống. Chức năng của văn học cũng là vai trò, nhiệm vụ của nó trong đời sống con người. Nó bao gồm nhiệm vụ 1 thời và nhiệm vụ lâu dài.Song, nhiệm vụ cơ bản nhất của nghệ thuật là bồi đắp tình người , tình đời, làm cho đời sống con người phong phú hơn, giúp con người hướng đến chân – thiện – mĩ.
Các chức năng:

1. Nhận thức, hiểu biết: 

– CN nhận thức của vh là khả năng của nó đem lại cho con người những hiểu biết mới về đời sống để bổ sung, làm giàu vốn kiến thức cho mình.

VD: Đọc “Lão Hạc” của Nam Cao sẽ cho ta cái nhìn toàn cảnh về xã hội nông thôn trước CM Tháng 8.
—-Về kinh tế: chủ yếu dựa trên kinh tế nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu
—-Về văn hóa: Còn những hủ tục lạc hậu (thách cưới nặng khiến anh con trai ko đủ tiền cưới vợ)
—Tâm hồn con người: những người nông dân chất phác, thuần hậu
—Những hiểu biết thêm về quan điểm NT, suy nghĩ, trăn trở của nhà văn

VD2: Tp “Tấm Cám”
—Đời sống vật chất: kinh tế nông nghiệp là chính với hình thức tủn mủn, lạc hậu
—Chế độ xh: thời kì sơ khai của triều đình phong kiến, vợ vua vẫn phải giặt quần áo, dệt vải
—Suy nghĩ về thiện – ác, các mối quan hệ xh: vợ – chồng, chị – em và đặc biệt là mẹ ghẻ – con chồng
– Nội dung nhận thức: Những tri thức mà vh mang lại cho con người phong phú, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như tự nhiên, xã hội, tư duy, đời sống tinh thần, tình cảm con người

VD: Tp Iliat và Odixe
——Phản ánh đời sống con người phg Tây thời kì bộ lạc, bộ tộc và liên tục xảy ra chiến tranh đẫm máu để mở rộng đất đai, lãnh thổ.
——Phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên
——Ca ngợi người anh hùng với sức mạnh phi thường(Iliat), ca ngợi trí tuệ, công lí, sự công bằng (Odixe)

– Đặc điểm CN nhận thức:

+ Những tri thức trong vh ko chuyên biệt, đi sâu như kiến thức khoa học, nó chỉ dừng lại ở mức độ phổ thông, dễ hiểu để mọi người đều nắm bắt đc.

+ Tri thức trong vh có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và lí trí, tình cảm và lí tưởng nên tránh đc sự khô khan, dễ đi vào lòng người 1 cách tự nhiên.

+ Sự nhận thức trong vh diễn ra cả ở bề mặt và bề sâu, cả bên ngoài cuộc sống và bên trong tâm hồn con người.

chức năng cơ bản của văn học

2. CN dự báo

– CN dự báo là khả năng đoán định trc những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Tiền đề của CN dự báo chính là chức năng nhận thức từ sự hiểu biết sâu rộng về đời sống, khả năng nắm bắt những quy luật. Nhà văn có thể chỉ ra những chiều hướng phát triển của xã hội.

VD: tp “Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ của W.Shakespeare, nhân vật An-tô-ni Sai-lốc: cổ súy cho giai cấp tư bản và chống lại giai cấp phong kiến của thời Phục Hưng nhưng W.S cũng đồng thời dự báo trc bản tính tham lam, ăn thịt uống máu người của bọn tư sản.

– Nội dung dự báo trong tpvh là rất phong phú. Có thể là dự báo sự ra đời của 1 chế độ, một lớp người nào đó hoặc 1 số phận , 1 quy luật…

VD: Chi tiết khi Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng trong tp “Chí Phèo” có t/c dự báo về 1 số phận con người và 1 quy luật xã hội : nếu xã hội ko thay đổi thì tre già măng mọc, những CP con, BK khác sẽ lại ra đời.

– Đặc điểm của Tính chất dự báo: Mỗi nhà văn tùy theo trình độ hiểu biết, tùy thuộc vào tâm và tầm của mình để có những dự đoán về đời sống, những dự đoán đó lại khác nhau giữa các nhà văn, giữa các trào lưu văn học.Mức độ dự báo trong vh có chính xác hay ko là phụ thuộc vào tầm hiểu biết, sự tinh tế, sắc sảo của nhà văn.

3. CN thẩm mĩ

-CN thẩm mĩ của văn học là khả năng của nó trong việc đem lại cho con người những cảm xúc, khoái cảm thẩm mĩ, từ đó bồi dưỡng cho con người những tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ.

VD: “Lượm” đem lại cho ng đọc những cảm xúc tốt đẹp về cả cái đẹp bên ngoài lẫn bên trong tức cái đẹp tâm hồn của vẻ đẹp lí tưởng, lòng yêu nước, trách nhiệm với công việc, ý chí quật cường của cậu bé liên lạc.

-CN thẩm mĩ trong vh đc khơi gợi từ chính những đặc tính thẩm mĩ của nhân vật.
VD: Nhân vật đẹp về ngoại hình dễ dàng tác động đến cảm xúc của con người nhưng cái để lại ấn tượng lâu dài mới là cái đẹp bên trong. Cái đẹp bên trong có khả năng tạo nên độ bền trong ấn tượng của người đọc.

– Đặc điểm CN thẩm mĩ:

+ Cái đẹp chỉ ở bề sâu , đòi hỏi 1 quy trình khám phá chứ ko hiển hiện , lộ diện ra bên ngoài, bề sâu khó thấy hơn nhưng bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu sắc hơn.

+ Các ngành công nghiệp thực dụng khi sản sinh ra cái đẹp nhằm mục đích tạo lợi nhuận thì cái đẹp trong vh xuất phát từ bản chất của NT ko thể thiếu đc.

+ Cảm xúc thẩm mĩ mà vh mang lại cho con người là những cảm xúc tự nhiên, vô tư, ko đặt lên trên lợi nhuận và nó trở thành đặc trưng bản chất thẩm mĩ vh.

4. CN giải trí

– CN giải trí của vh là khả năng của nó trong việc mang lại những cảm giác thư thái, than thản, giúp con người sảng khoái. Thường gặp nhất trong tiếu lâm, hài kịch, trào phúng.

CN giải trí của vh ko phải chỉ thể hiện ở tiếng cười thư giãn mà trong nhiều trường hợp nó còn thể hiện ở chỗ giúp con người nếm trải những cảnh đời, những số phận khác nhau.

CN thẩm mĩ và CN giải trí có mối quan hệ hài hòa, bổ sung, tương hỗ cho nhau.

5. CN giao tiếp

-CN giao tiếp của vh là khả năng kết dính con người, giúp con người xích lại gần nhau hơn trên tinh thần đối thoại, cởi mở

-Giao tiếp trong NT diễn ra từ 2 phía: tác giả – bạn đọc. Diễn ra dưới 2 hình thức: đồng đại- lịch đại. CN giao tiếp trong vh là
giao tiếp gián tiếp và lâu dài trong lịch sử. Sự giao tiếp trong vh thường dẫn đến ý nghĩa giáo dục.

6. CN giáo dục

– CN giáo dục biểu hiện ở chỗ vh có khả năng hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, xây dựng và bồi đắp nhân cách cho con người, cải tạo những quan điểm sai lầm, giúp cho con người hướng đến tương lai 1 cách tốt đẹp và nhân văn.

VD: Tấm Cám: cái thiện, cái mĩ sẽ đc trả công 1 cách xứng đáng, cái ác sẽ bị tiêu trừ.
“Lão Hạc”: bài học nhân cách, lương thiện về lòng tự trọng, về tính chất phác, thuần hậu.

>> XEM THÊM: 

Loading...
Spread the love
Bài viết cùng chuyên mục