Sun, 05 / 2018 12:36 pm | thuylinh

Đề bài: Soạn bài Phú sông Bạch Đằng

Bài làm

Câu 1. Bố cục bài phú bao gồm 4 đoạn:

Đoạn 1. Từ đầu đến “luống còn lưu”: Cảm xúc lịch sử của nhân vật khách trước cảnh sắc của sông Bạch Đằng.

Đoạn 2. Tiếp đến “nghìn xưa ca ngợi”: Lời của các bô lão kể với khách về những chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Loading...

Đoạn 3. Tiếp đến “chừ lệ chan”: Suy ngẫm bình luận của các bô lão về những chiến công xưa.

Đoạn 4. Phần còn lại: Lời ca khẳng định vai trò và đức độ của con người.

Câu 2.

Khách là người có tính cách phóng khoáng, khảng khái, mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng là một người yêu thích du ngoạn, đi nhiều, biết rộng, thường làm bạn với gió trăng, qua nhiều miền sông bể. “Khách” đã tìm đến những địa danh lịch sử (đặc biệt là Bạch Đằng) để ngợi ca và suy ngẫm.

Nhân vật “khách” được ngòi bút tài hoa của Trương Hán Siêu thổi hồn vào thành một nhân vật sinh động. “Khách” chính là cái tôi tác giả, một con người mang tính cách tráng sĩ với tâm hồn đa sầu đa cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử đất nước.

Khách đã “đi qua” hai loại địa danh chính, loại địa danh thứ nhất lấy trong điển cố Trung Quốc (Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt…) và loại địa danh thứ hai là của đất Việt (Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng…). Loại địa danh thứ nhất thể hiện tráng chí của người anh hùng ở bốn bể, loại địa danh thứ hai mang tính cụ thể, thể hiện tình yêu đất nước, tâm hồn ưu ái đối với cảnh trí non sông.

>>Xem thêm:

Soan-bai-Phu-song-Bach-Dang2

Câu 3.

Cảm xúc của “khách”: Khách có cảm giác vừa vui vừa buồn, vừa tự hào vừa nuối tiếc.

Khách vui và tự hào vì cảnh non sông hùng vĩ, tươi đẹp, thơ mộng (nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu), khách tự hào trước dòng sông Bạch Đằng từng ghi bao chiến công hiển hách.

Khách buồn, nuối tiếc vì những dấu tích khắc ghi những oanh liệt ngày xưa nay trở nên trơ trọi hoang vu. Thời gian đang vùi lấp dần bao giá trị vào trong quá khứ.

Đoạn thơ chủ yếu ngắt bằng nhiều nhịp chẵn, tạo nên giọng điệu đều đặn, nhịp nhàng, trầm lắng, khơi gợi nhiều nỗi suy tư trong lòng người đọc.

Câu 4.

Các bô lão là hình ảnh vừa đại diện cho nhân dân, vừa là chứng nhân của lịch sử. Bên cạnh đó, hình ảnh các bô lão đồng thời cũng có sự phân thân của tác giả. Tác giả đã tạo ra nhân vật các bô lão nhằm có được sự đối đáp tự nhiên, từ đó dựng lên những trận thuỷ chiến Bạch Đằng (qua lời kể của các bô lão).

Các bô lão kể về chuyện xưa với ngôn từ sống động, lời lẽ trang trọng gợi nên cảm hứng lịch sử với âm điệu hào hùng, bi tráng. Những kì tích trên sông Bạch Đằng được tái hiện qua cách liệt kê sự kiện nối nhau trùng điệp, hàng loạt hình ảnh đối nhau bừng bừng không khí chiến trận với thế giằng co quyết liệt. Đây là chiến trận từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo nhưng trọng tâm tập trung vào chiến thắng “buổi trùng hưng” … với trận thuỷ chiến ác liệt, dòng sông nổi sóng (“Muôn đội thuyền bè tỉnh kì phấp phới”), khí thế “hùng hổ”, “sáng chói”, khói lửa mù trời, tiếng gươm khua, tiếng quân reo. Trận đánh kinh thiên động địa được tác giả tái hiện bằng những nét phóng bút khoa trương rất thần tình. Âm thanh, màu sắc được tác giả vận dụng phối hợp góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi của dân tộc.

Những hình ảnh điển tích được sử dụng một cách chọn lọc, phù hợp với sự thật lịch sử (Xích Bích, Hợp Phì, gieo roi…). Điều đó đã góp phần diễn tả tài đức của vua, tôi nhà Trần và sự vẻ vang của chiến thắng Bạch Đằng như một bài thơ tự sự đậm chất hùng ca.

Kết thúc đoạn 1, tác giả đã viết “Đến sông đây chừ hổ mặt – Nhớ người xưa chừ lệ chan”, đây vẫn là lời các bô lão nhưng người đọc nghe trong đó có giọng của tác giả. Niềm cảm hoài của các bô lão gặp niềm sững sờ buồn tiếc của khách tạo nên sự cộng hưởng trong cái tôi tác giả.

>>Xem thêm: 

Soan-bai-Phu-song-Bach-Dang3

Câu 5.

Trong lời thơ đoạn cuối bài, các bô lão và khách như hiện thân hô ứng của xưa – nay ca lên niềm tự hào về non sông, bình luận về chiến thắng bằng khúc anh hùng ca về tinh thần ngoan cường, bất khuất của con người:

Lời ca của các bô lão mang âm hưởng của sử thi, dòng sống cuộc đời, tất cả cứ tha thiết chảy đêm ngày. Một chân lí vĩnh cửu cũng theo đó mà sáng chói: bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thì lưu danh thiên cổ.

Lời nối tiếp của khách có ý nghĩa tổng kết, vừa ca ngợi công đức hai vị vua anh minh tài đức, vừa bày tỏ khát vọng hoà bình. Đó là tư tưởng nhân văn hết sức cao đẹp của cả dân tộc ta.

Câu 6.

Về giá trị nội dung: bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc về truyền thống anh hùng bất khuất và đạo lí nhân nghĩa sán ngời của dân tộc Việt Nam. Tác đề cao vai trò, vị trí của con người trong thời bình cũng như thời chiến.

Về giá trị nghệ thuật: Bài phú có cấu tứ đơn giản, hấp dẫn, bố cục chặt chẽ. Lời văn trong tác phẩm linh hoạt. Hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình vừa giàu tính triết lí. Ngôn từ trang trọng và lắng đọng, giàu suy tư.

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục