Mon, 05 / 2018 4:28 pm | thuylinh

Đề bài: Soạn bài Tỏ lòng (Thuật hoài)

Bài làm

Câu 1: Chỉ ra điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán (qua phần dịch nghĩa) với câu thơ dịch. Có gì đáng lưu ý về không gian, thời gian trong đó con người xuất hiện? Con người ở đây mang tư thế, dáng vóc như thế nào?

Câu thơ đầu “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu” với bản dịch nghĩa của Bùi Văn Nguyên “Múa giáo non sông trải mấy thu” còn chưa có sự chuẩn xác. Hai chữ “múa giáo” còn chưa lột tả được âm hưởng hào hùng của hai từ “hoành sóc”. Hoành sóc gợi lên tư thế cầm ngang ngọn giáo của người anh hùng khi bảo vệ đất nước. Con người trong tư thế ấy biểu hiện một vẻ hiên ngang, lẫm liệt, một tư thế oai phong mang tầm vóc vũ trụ. Không gian ngọn giáo trải rộng là cả giang sơn hùng vĩ. Bối cảnh ấy càng làm toát lên khí thế hào hùng, sự kì vĩ của người quân tử đồng thời cũng cho thấy tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu.

Câu 2.

Loading...

Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách. Cách thứ nhất người đọc có thể hiểu rằng khí thế của nghĩa quân hùng mạnh nuốt trôi trâu. Ba quân có sức lực và uy dũng có đủ sức vật đổ cả ba bò chín trâu. Còn ở cách hiểu thứ hai người đọc có thể hiểu là ba quân có hùng khí át cả sao Ngưu trên trời. Cách hiểu thứ hai này có lẽ diễn tả đúng ý nghĩa mà nhà thơ muốn truyền tải hơn. Sự thật đúng là quân đội nhà Trần có binh hùng tướng mạnh, uy dũng vô song, cả quân cả tướng đều là những người tài.

Soan-bai-To-long-Thuat-hoai2

Câu 3: “Nợ” công danh mà tác giả nói tới trong bài thơ có thể hiểu theo nghĩa nào dưới dây?

Thể hiện chí làm trai theo tinh thần Nho giáo: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm).

Chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước.

Chữ “nợ” mà tác giả sử dụng trong câu thơ có thể được hiểu theo cả hai nghĩa trên. Ở cách hiểu thứ nhất, câu thơ cho thấy ý chí cùng hoài bão lớn của người quân tử. Đó là chí khí làm trai phải có danh gì với núi sông, là hoài bão lớn mong muốn lập công danh sự nghiệp để lại tiếng thơm cho đời.

Cũng có thể hiểu câu thơ theo cách hiểu thứ hai là sự hổ thẹn, ngại ngần của tác giả khi chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân với nước. Là những bổn phận và nghĩa vụ công danh mà người quân tử còn chưa hoàn thành được.

Câu 4.

Trong câu thơ cuối “Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu), nỗi thẹn thùng ở đây đã thể hiện được vẻ đẹp trong nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão tự nhận thấy mình thật hổ thẹn trước những tài năng mưu lược của Gia Cát Lượng. Nhà thơ tự nhận mình là người kém cỏi cả về tài năng và mưu lược, và thấy xấu hổ về điều đó. Chính những điều này lại cho thấy vẻ đẹp trong nhân cách của Phạm Ngũ Lão. Bởi vì hiểu, bởi vì hay suy nghĩ và ý thức được những lí tưởng và hành động cao cả mà người quân tử phải để lại cho đời và trách nhiệm với đất nước, với non sông của ông. Điều này càng làm cho nhân cách của người quân tử càng trở nên trong sáng, thể hiện một nhân cách cao đẹp hơn cả.

Câu 5.

Bài thơ là lời ca ngợi về vẻ đẹp của con người thời đại nhà Trần. Họ là những con người có khí phách, có lòng dũng cảm. Đó là những người lính, là quân đội nhà Trần mang trên mình tầm vóc vũ trụ, hào hùng, lẫm liệt. Phạm Ngũ Lão cũng là một trong những con người ấy luôn sống hết mình vì dân vì nước, cống hiến hết tất cả cho sự nghiệp chung. Chính những điều đó đã tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh của nhà Trần với hào khí Đông A và những trận chiến vang dội mà sử sách còn ghi.

Qua đây, những thế hệ trẻ ngày hôm nay cũng học được lí tưởng sống và cống hiến, vẻ đẹp trong nhân cách của người xưa. Đó là sự hết mình cho xã hội, là sự dẹp bỏ cái tôi để thực hiện những cái ta lớn hơn. Là nhân cách cao đẹp luôn biết khiêm tốn, nhún nhường về bản thân. Là khí phách hiên ngang dũng cảm mà người nam nhi vươn tới. Tất cả những điều đó là tấm gương sáng để thế hệ ngày hôm nay noi theo.

Loading...
Spread the love
Bài viết cùng chuyên mục