Mon, 05 / 2018 3:57 pm | thuylinh

Đề bài: Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

Bài làm

Câu 1. Anh chị hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

“Đêm qua chẳng biết có hay không,

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng.

Loading...

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

Cách vào đề của bài thơ cho thấy một sự khách quan: Câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không”. Cách vào đề ấy gợi cho người đọc cảm giác bán tín bán nghi biết là không thật nhưng mà lại thật về câu chuyện mà tác giả sắp kể.

Tác giả lại khẳng định mình ở trong trạng thái rất bình thường “Chẳng hoảng hốt, không mơ màng” và khẳng định tính chân thật của câu chuyện: “Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! – Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”. Điệp từ “thật” kết hợp với hàng loạt dấu chấm cảm như khẳng định thêm độ chân thật của câu chuyện của tác giả sắp kể.

Cách vào đề này gợi lên sự tò mò cho người đọc, tạo sự hấp dẫn, muốn được nghe câu chuyện.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh chị có cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả?

Thái độ của tác giả khi đọc thơ vô cùng cao hứng và có phần tự đắc, kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình (Đọc hết văn vần lại văn xuôi – Hết văn thuyết lý lại văn chơi). Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa tự nhiên, sảng khoái, cuốn hút người nghe khiến cho chư tiên và Trời vô cùng thích thú.

Những lời khen của Trời:

  • “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”.
  • “Văn thật tuyệt! …”
  • “Nhời văn chuốt đẹp như sao bang
  • “Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!”
  • Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
  • Êm như gió thoảng, tinh như sương”…

Trời tỏ thái độ thật tâm đắc, thích thú khi nghe thơ và cất lời khen rất nhiệt tình, xởi lởi.

Thái độ của Chư Tiên:

  • Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
  • Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
  • Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
  • Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.

Chư Tiên nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

Tản Đà là một nhà thơ có ý thức về tài năng và thơ văn của mình, luôn tự hào và dám đường hoàng bộc lộ cái “tôi” cá tính của mình Trong văn chương, Tản Đà thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, không chấp nhận sự bằng phẳng, đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ, khao khát được khẳng định cái tôi của bản thân.

Soan-bai-Hau-troi-cua-Tan-Da2

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bào lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa của đoạn thơ đó. Theo anh chị hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó

Biết làm có được mà dám theo”.

Đây là một đoạn thơ rất hiện thực bởi ở đây, tác giả đã kể cho trời nghe cảnh mình ở hạ giới: một cảnh sống nghèo khó, vất vả, miếng ăn không có, tất cả những gì ông sung túc chỉ là một bụng văn chương. Ấy thế mà văn chương ở thực tại lại vô cùng rẻ rúng bèo bọt.

Đoạn thơ là bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác cùng thời không kiếm được miếng cơm manh áo bởi những tác phẩm của mình do sự rẻ mạt của văn chương, chỉ chăm chăm lo ăn mặc. Kiếp sống ngậm ngùi cơ cực của một lớp nhà văn trong chế độ cũ là rất khó khăn và đầy thách thức.

Hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện thực đan xen vừa làm nổi bật lên phong cách cá tính của nhà thơ vừa cho thấy hiện thực về cuộc sống, sự bèo bọt của người văn sĩ và văn chương trong cuộc sống. Bút pháp lãng mạn khiến cho cái ngông nghênh, hài hước của bài thơ được nổi bật. Bút pháp hiện thực lại làm cho các câu thơ gần gũi, gắn bó, sát với thực tế hơn.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật,…)

Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào, không chịu sự gò bó của các quy luật niêm luật vần vận và không bị giới hạn về độ dài.

Ngôn ngữ hóm hỉnh, vừa ngông nghênh, ngạo nghễ lại có duyên, lôi cuốn người đọc.

Cách biểu hiện cảm xúc tự nhiên, tự do, phóng túng, hào sảng.

Nghệ thuật hư cấu giữa con người trần thế và giới tiên đàng, giữa trời, thần tiên và con người gắn bó, thân thiết và có những suy nghĩ, biểu hiện, hành động vô cùng thân thuộc với cuộc sống của con người.

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục