Sun, 05 / 2018 12:27 pm | thuylinh

Đề bài: Soạn bài Đại cáo Bình Ngô

Bài làm

Câu 1. Tóm lược nội dung của từng đoạn. Nội dung của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc như thế nào?

Nội dung của 4 đoạn trong bài cáo là:

Đoạn 1: Tác giả khẳng định về tư tưởng nhân nghĩa của ta và chân lí về quyền tự do độc lập dân tộc của đất nước Đại Việt.

Loading...

Đoạn 2: Nêu cao lòng căm thù đối với tội ác của giặc Minh và tố cáo gay gắt tội ác của chúng.

Đoạn 3: Diễn biến của cuộc kháng chiến từ khi mở đầu hết sức khó khăn đến lúc thắng lợi vẻ vang hoàn toàn. Từ đó, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước kết tinh trong chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Đoạn 4: Đây là lời đại cáo tuyên bố về nền hoà bình, khẳng định ý nghĩa và tư tưởng nhân văn, nhân đạo của cuộc kháng chiến cùng tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Câu 2: Tìm hiểu đoạn mở đầu từ “Từng nghe…” đến “chứng cớ còn ghi”.

  1. Có chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo?
  2. Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập?
  3. Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc?

Qua đoạn mở đầu từ “Từng nghe…” đến “chứng cớ còn ghi”, ta có thể thấy:

  1. Có nhiều chân lí được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo là:

Tác giả Nguyễn Trãi đã nêu ra chân lí về tư tưởng chính nghĩa để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng và từ đó triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Tư tưởng chính nghĩa này bao gồm hai nội dung là: tư tưởng nhân nghĩa và chân lí về độc lập, chủ quyền của đất nước Đại Việt.

  1. Đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập vì:

Đoạn mở đầu bài cáo có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập vì tác giả đã lập luận chặt chẽ sau khi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi là làm đời sống nhân dân yên ổn, tác giả đã bàn về sự tồn tại độc lập và có chủ quyền chính đáng của nước Đại Việt như một chân lí khách quan, hiển nhiên, vốn có lâu đời nên hành động của quân giặc là hành động trái lẽ tự nhiên.

  1. Tác giả đã đưa ra những yếu tố căn bản để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc là:

Tác giả Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền dân tộc là: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời và đặc biệt là sự nối tiếp của các triều đại phong kiến Việt Nam không phụ thuộc mà song hành với các triều đại phong kiến của Trung Quốc (“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”).

Ngoài cương vực lãnh thổ, nền văn hiến lâu đời thì địa vị của vua chúa nước Việt cũng được đặt ngang hàng với vua chúa phương Bắc. Qua đó, ta có thể thấy được ý thức tự tôn dân tộc Việt đã trở thành truyền thống lâu đời.

>>Xem thêm:

Soan-bai-Dai-cao-Binh-Ngo

Câu 3: Tìm hiểu đoạn 2: từ “Vừa rồi…” đến “Ai bảo thần dân chịu được”.

  1. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất? Tội ác nào là man rợ nhất?
  2. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc?
  3. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác của giặc Minh là:

Nhà Minh âm mưu cướp nước hiểm độc, gian xảo, chúng sử dụng luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ”. Hàng loạt tội ác của giặc Minh trên đất nước ta: giết hại dân lành: “nướng dân đen”, “vùi con đỏ” và tội ác bóc lột sức người, sức của: “nặng thuế khoá”, “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Tất cả những điều đó là những âm mưu hiểm độc và những tội ác man rợ. Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường dân tộc để vạch rõ âm mưu của giặc Minh và đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo chủ trương cai trị thâm độc và tội ác của giặc.

Trong số đó, âm mưu thâm độc nhất là: “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Tội ác man rợ nhất là: “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”, “vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

  1. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có điểm đặc sắc là:

Tác giả đã sử dụng những hình tượng có sức khái quát cao (“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”). Nguyễn Trãi đã tái hiện một cách chân thực và sâu sắc những tội ác của quân giặc gây ra cho đất nước ta. Cuối cùng, để kết thúc bản cáo trạng, tác giả đã kết tội quân giặc bằng những câu văn đanh thép, giàu hình tượng (“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội – Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi”).

Tất cả các hình ảnh thiên nhiên ở đây đều là những hình ảnh vô cùng, vô tận, được khắc họa bằng lời văn uất hận trào sôi, cảm thương da diết, nghẹn ngào tấm tức. Nhịp điệu bài cáo thay đổi linh hoạt khi dồn dập khí thế, khi hào hùng từ đó khắc họa rõ nét đến tận cùng của tính chất độc ác, tàm bạo, man rợ, dơ bẩn trong những hành động cai trị tàn nhẫn của giặc.

Câu 4. Tìm hiểu đoạn 3: từ “ta đây” đến“cũng là chưa thấy xưa nay”.

  1. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào?
  2. Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như thế nào?

–  Tác giả nhằm vào những loại trận ở mấy giai đoạn, mỗi loại có đặc điểm gì nổi bật ?

–  Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả khí thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại của quân giặc.

–  Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu câu văn.

Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện một cách chân thực và hào hùng, tập trung vào hình tượng vị anh hùng dân tộc Lê Lợi. Chân dung của Lê Lợi hiện lên qua những phẩm chất và tài năng đáng quý. Cách xưng danh đầy khẳng khái: “Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa…”. Lê Lợi có lòng căm thù giặc sâu sắc: “Ngẫm thù lớn… Căm giặc nước… Quên ăn vì giận…”. Ngoài ra ông cũng là người có ý thức tự giác và nhiệt huyết cứu nước, mối trăn trở thường trực trong lòng: “Đau lòng nhức óc… Nếm mật nằm gai… Ngẫm trước đến nay… Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi….”. Ông có thái độ cầu hiền mong tìm được người tài cứu nước: “Tấm lòng cứu nước… còn dành phía tả”. Lê Lợi cũng là người có tinh thần không ngại gian khó, biết khắc phục khó khăn: “Khi Linh Sơn… khắc phục gian nan”. Ông còn là người có khả năng thu phục lòng người và tạo ra nên sức mạnh đoàn kết quân dân: “Nhân dân bốn cõi… chén rượu ngọt ngào”. Đặc biệt ông là người có mưu chức tài giỏi khi ra trận, biết lượng sức mình: “Thế trận xuất kĩ… lấy ít địch nhiều”.

Tác giả đã sử dụng nhiều điển cố, điển tích và những hình ảnh có sức biểu đạt lớn để dựng lên chân dung đầy đủ của người anh hùng dân tộc Lê Lợi khiến cho người đọc có cảm giác đầy tự hào, ngưỡng mộ và cảm phục. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi đã khẳng định sức mạnh giúp quân ta chiến thắng chính là sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo đã miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bằng những hình ảnh rất hào hùng có sự đối lập với quân giặc:

Nghĩa quân Lam Sơn Quân Minh
Khí thế hùng mạnh, được sự ủng hộ của cả đất trời và lòng người (Sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay; thừa thắng ruổi dài…). Quân giặc hèn hạ, yếu ớt (Nghe hơi mà mất vía; nín thở cầu thoát thân, máu chảy thành sông; thây chất đầy nội).
Có bản lĩnh, sức mạnh vượt trội, chấn động tâm lí kẻ địch (Đưa lưỡi dao tung phá; bốn mặt vây thành; người hùng hổ; kẻ vuốt nanh gươm mài đá, voi uống nước, sạch không kình ngạc, tan tác chim muông, cơn gió to, tổ kiến hổng). Không có tài năng, không có khí thế và dễ dàng bị bại trận (Lê gối dâng tờ tạ tội: trói tay tự xin hàng: thây chất đầy đường; máu trôi đỏ nước; máu chảy trôi chày; thây chất thành núi; cỏ nội đầm đìa máu đen).

Cách sử dụng từ hình tượng, ngôn từ, miêu tả màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đậm tính chất hào hùng của một bản anh hùng ca. Bên cạnh việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, so sánh, tương phản, tác giả còn sử dụng hàng loạt bút pháp nghệ thuật liệt kê, trùng điệp, câu văn, nhịp điệu dài ngắn đan xen, sự biến hoá linh hoạt, tài tình tạo nên âm hưởng vừa hào hùng vừa mạnh mẽ, khắc hoạ khí thế của nghĩa quân và sự tan tác tơi bời của quân giặc.

Câu văn biến hoá linh hoạt khi ngắn, khi dài; nhạc điệu chung là dồn dập, sảng khoái, bay bổng. Với giọng văn cuồn cuộn khí thế như một bản anh hùng ca chiến thắng, với những hình ảnh so sánh tương phản độc đáo, tác giả đã miêu tả thành công khí thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại thảm hại của giặc Minh.

>>Xem thêm:

Soan-bai-Dai-cao-Binh-Ngo2

Câu 5. Tìm hiểu đoạn kết: từ “xã tắc từ đây…” đến “ai nấy đều hay”

  1. Giọng văn có gì khác với những đoạn trên? Do đâu có sự khác nhau đó?
  2. Theo anh (chị) có những bài học lịch sừ nào? Ý nghĩa lịch sử đối với chúng ta ngày nay?
  3. Giọng văn ở đoạn này có điểm khác biệt với những đoạn trên là:

Giọng văn đang từ hào hùng, khí thế, dồn dập chuyển sang trịnh trọng phù hợp với lời tuyên bố độc lập. Có sự khác nhau đó là bởi:

Đoạn văn này là lời tuyên bố trang nghiêm trịnh trọng của tác giả thay mặt cho vua Lê Lợi và toàn dân về nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước nay và niềm tin vào một tương lai tốt đẹp đang chờ đón đất nước.

Trong đoạn này, tác giả còn nhắc đến sức mạnh truyền thống của lòng yêu nước, công lao dựng nước và giữ nước của tổ tiên và quy luật thịnh – suy, bĩ – thái tất yếu của mọi triều đại mang đậm tính chất triết lí phương Đông.

  1. Một số bài học lịch sử trong bài cáo là:

Bài học về truyền thống của dân tộc: Dân tộc ta ngày nay có được chiến thắng lẫy lừng, có nền độc lập tự chủ là “Nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ”. Đây là cách nói đề cao tinh thần yêu nước, biết ơn tổ tiên và cha ông và những phẩm chất quý báu đã trở thành truyền thống của dân tộc, khẳng định sức mạnh bền bỉ, ý thức tự tôn của cả dân tộc.

Câu 6: Rút ra những giá trị chung về nội dung và nghệ thuật của “Đại cáo bình Ngô”.

Về giá trị nội dung: “Bình Ngô đại cáo” là tác phẩm nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước và ý thức tự tôn của dân tộc ta. Đó là những yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đem lại nền độc lập hòa bình của đất nước ta. Bình Ngô đại cáo là bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam, và cũng là một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta. Nó vừa mang giá trị lịch sử to lớn, vừa có giá trị văn chương đặc đậm chất triết lí.

Về giá trị nghệ thuật: Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo lối kết cấu chung của thể cáo, lấy tư tưởng nhân nghĩa và quyền độc lập tự chủ của dân tộc để làm cơ sở chân lí để triển khai cho những lập luận đanh thép của mình. Bố cục bài cáo chặt chẽ, cân đối. Giọng văn linh hoạt, phong phú. Mọi lí lẽ luôn gắn liền với thực tiễn bằng những dẫn chứng cụ thể, xác đáng và được tái hiện chân thực, rõ nét. Tác giả đã kết hợp một cách khéo léo tài tình sức mạnh của lí lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật để tạo nên một áng văn bất hủ.

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục