Wed, 06 / 2018 3:19 pm | thuylinh

Đề bài: Soạn bài Cảnh ngày xuân

Bài làm

Câu 1. Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân.

Những chi tiết nào gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân? (Chú ý những đường nét, hình ảnh, màu sắc, khí trời, cảnh vật)

Em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ và bút pháp nghệ thuật của Nguyền Du khi gợi tả mùa xuân?

Loading...

Những chi tiết gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân là:

Về đường nét: “con én đưa thoi” gợi lên sự chao đi liệng lại của những đàn én, én đã bay về rất nhiều, báo hiệu mùa xuân đã sang được một thời gian.

Về hình ảnh: con én, cỏ non xanh, cành lê trắng, đây cũng là hàng loạt hình ảnh dấu hiệu báo hiệu mùa xuân sang. Mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, những bãi cỏ non xanh tít tắt và những cành hoa lê cũng là dấu hiệu quan trọng cho thấy mùa xuân đã về được quá nửa thời gian.

Về màu sắc: xanh, trắng: những màu sắc chứa đựng sức sống, rạng rỡ, đầy ánh sáng.

Cách dùng từ ngữ của Nguyễn Du vô cùng ngắn gọn, súc tích nhưng những cảnh vật, hình ảnh được chọn lọc là những hình ảnh tinh túy, sắc nét đặc tả mùa xuân. Bút pháp nghệ thuật tương phản về màu sắc, tạo nên vẻ hài hòa và giàu sức gợi về mùa xuân.

Câu 2. Tám câu thơ tiếp gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

Thống kê những từ ghép là tính lừ, danh từ, động từ (gần xa, yến anh, chị em, tài tử, nô nức, dập dìu,…). Những lừ ấy gợi lên không khí và hoạt động của lễ hội như thế nào?

Thông qua buổi du xuân của chị em Thuý Kiều, tác giả khắc hoạ hình ảnh một lễ hội truyền thống xa xưa. Em hãy đọc kĩ các chú thích, kết hợp với đoạn thơ để nêu những cảm nhận về lễ hội truyền thống ấy.

Những từ ghép là tính từ, danh từ, động từ trong 8 câu thơ tiếp theo là: tảo mộ, đạp thanh, gần xa, yến anh, nô nức, sắm sửa, bộ hành,… Những từ ghép gợi lên không khí hối hả, tưng bừng, rộn ràng, náo nức của ngày lễ hội với các hoạt động phong phú, khẩn trương.

Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa hình ảnh một lễ hội truyền thống xa xưa là tết thanh minh. Tết thanh minh là một trong những ngày lễ quan trọng của người Việt Nam. Vào ngày này, con cháu, các thành viên trong gia đình đều tụ họp và đi tảo mộ, đi dự hội. Đây là một nét văn hóa vô cùng tốt đẹp thể hiện tinh thần tín ngưỡng tôn thờ và tưởng nhớ đến tổ tiên, đồng thời đây còn là dịp để những bạn trai tài gái sắc được gặp gỡ, hẹn hò với nhau.

Soan-bai-Canh-ngay-xuan

Câu 3. Sáu câu thơ cuối gợi lên cảnh chị em Kiều du xuân trở về.

Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu thơ cuối có gì khác với bốn câu thơ đầu? Vì sao?

Những từ ngữ tà tà, thanh thanh, nao nao chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật hay còn bộc lộ tâm trạng con người? Vì sao?

Cảm nhận của em về khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ cuối.

Cảnh vật, và không khí mùa xuân trong sáu câu thơ cuối có sự khác biệt so với 4 câu thơ đầu.

Về cảnh vật: cảnh vật từ tưng bừng, rộn rã và nô nức đã bắt đầu chuyển sang thưa thớt, vãn người.

Không khí thay vì tấp nập huyên náo nhộn nhịp giờ chuyển sang yên tĩnh, êm ả như lắng đọng lại.

Cảnh vật và không khí có sự thay đổi về chiều, khi mọi người đã về, hội đã tan, lúc này quang cảnh cũng được thu hẹp lại với dòng suối nhỏ, nhịp cầu cong cong.

Những từ ngữ tà tà, thanh thanh, nao nao không chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Tâm trạng đó là sự lắng đọng, buồn thương, ảm đạm sau khi tan hội trở về. Con người bước đi trong không khí êm ả, thanh bình, tĩnh lặng và đó là cơ sở khiến người ta cũng lặng lẽ chiêm nghiệm, nghĩ về cuộc đời. Và đúng là Thúy Kiều trong tâm trạng nao nao này sau đó đã vô cùng đồng cảm, tiếc thương cho Đạm Tiên và cuối cùng là cuộc gặp gỡ định mệnh với chàng Kim Trọng.

Cả khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người đều có sự thay đổi trong  câu thơ cuối. Nếu như ở những câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên náo nhiệt, vui tươi khiến tâm trạng con người cũng phấn khởi, vui vẻ thì ở 6 câu thơ cuối này, đất trời đã về chiều, hoàng hôn buông xuống khiến cảnh vật trở nên thăm thẳm, phảng phất buồn và tâm trạng con người cũng chùng xuống, đầy tâm tư. Không còn sự ríu rít, những tiếng nói, tiếng cười mà thay vào đó, con người trở nên bâng khuâng, tiếc nuối, lòng người và cảnh vật có sự tương đồng và ăn ý với nhau.

Câu 4. Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn trích Cảnh ngày xuân.

(Gợi ý: Đoạn thơ có kết cấu hợp lí như thế nào? Cách sử dụng từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình. Sự kết hợp giữa bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi có tính chất điểm xuyết, chấm phá,…).

Đoạn thơ có kết cấu vô cùng hợp lí, theo trình tự của thời gian: từ buổi sáng trong không khí thanh minh ban sớm tinh khiết trong veo đến lúc mọi người đi trảy hội tưng bừng, vui vẻ, tấp nập và cuối cùng là khi hội tan, buổi chiều đến và chị em Kiều dắt tay nhau ra về.

Cách sử dụng nhiều từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình đã khiến cho bài thơ vừa có chất nhạc vừa có chất họa, giàu sức gợi và tả. Đây là một bức tranh thiên nhiên về mùa xuân đầy màu sắc.

Các bút pháp nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn, tác giả sử dụng bút pháp vừa miêu tả chi tiết cụ thể kết hợp với bút pháp chấm phá, điểm xuyết khung cảnh trong không gian, cảnh vật khiến cho cảnh vật mùa xuân hiện lên vừa đặc trưng, vừa tươi đẹp và từ đó làm nổi bật tâm trạng của các nhân vật. Đây quả là một trong những câu thơ hay nhất khi miêu tả về mùa xuân trong kho tàng thơ ca Việt Nam.

 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục