Thu, 03 / 2018 4:45 pm | thuylinh

Đề bài: Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ của tác giả Đặng Trần Côn.

Bài Làm

Trong bối cảnh xã hội loạn lạc, chế độ phong kiến mục ruỗng, bờ cõi bị xâm lấn, tình cảnh phân li tiễn biệt diễn ra ở người người nhà nhà. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời trong bối cảnh đó đã thể hiện rõ nét tâm trạng con người qua bao khó khăn, xa cách. Bài thơ đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch lại từ chữ Hán một cách xuất sắc và đã ngay lập tức đi vào lòng người đọc.

Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Loading...

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết?

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương!”.

Tình cảnh leo lắt của người mẹ, người vợ ở nhà trông ngóng chồng con mình nơi xa trường không phải ai cũng có thể thấu cảm. Không phải bỗng dưng người ta vẫn nói phụ nữ là phái yếu, mỗi khi người chồng chinh chiến ở xa, cảm xúc bồn chồn, lo lắng, khắc khoải dồn nén một mình người vợ phải trải qua những tháng ngày vô cùng khó khăn, thấp thỏm lo âu, đứng ngồi không yên. Người chinh phụ ở đây cũng vậy. Nỗi cô đơn và lo lắng của nàng được thể hiện ở khắp mọi nơi trong ngôi nhà: trong rèm, ngoài hiên, buổi đêm, ban ngày. Hình ảnh người phụ nữ thẫn thờ gieo những bước chân bước qua bước lại lột tả sự bứt rứt không yên cùng ngóng trông đến cháy bỏng.

Nỗi lòng người chinh phụ còn theo nàng khi nàng không thể bước vào giấc ngủ mà vẫn ngóng đợi ngoài rèm. Tiếc thay, đã không có một động tĩnh nào hồi đáp lại sự mong mỏi của nàng, chỉ có ngọn đèn dầu hắt hiu đơn độc như càng làm nổi bật nên sự cô quạnh của nàng.

Hình ảnh ngọn đèn dầu biết mà cũng như không biết gợi liên tưởng cho người đọc nhớ đến nỗi niềm oan ức của nàng Vũ Nương khi bị Trương Sinh hiểu lầm. Ánh đèn trong đêm khuya thường thể hiện sự cô quạnh và luôn song hành với những nỗi niềm day dứt khó nói của những người phụ nữ. Ấy vậy nhưng trong đêm khuya tịch mịch ấy, cả ngọn đèn cũng không rọi sáng được nỗi lòng người chinh phụ để rồi cuối cùng nàng chỉ có thể ôm niềm bi thiết trong lòng. Nỗi đau, nỗi nhớ của người chinh phụ phải sâu sắc và kín đáo đến đâu mà ngọn đèn cũng không thể chiếu rọi. Hình ảnh so sánh hoa đèn với bóng người cũng gợi nên nét đẹp và bi ai của người chinh phụ. Nàng và hoa đèn giống như hai mảnh tâm hồn đồng điệu và đáng thương.

“Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”.

Tiếng gà gáy đã báo trống năm, trời đã sáng, người chinh phụ như rũ xuống cùng bóng hòe. Bóng hòe “rũ” một hình ảnh mang tính gợi tả sâu sắc, cái rũ nó bao gồm rất nhiều tầng ý nghĩa và thường gợi đến những điều không hay. Sự chờ đợi làm con người ta mòn mỏi, như đếm từng phút từng giây, thức đêm mới biết đêm dài, huống hồ ở đây lại thức và chờ đợi người chồng của mình trở về đằng đẵng biết bao tháng năm. Trong bối cảnh ấy, mỗi một khắc trôi qua dài tựa như cả một năm.

Hàng loạt từ láy được sử dụng liên tiếp “đằng đẵng”, “dằng dặc” gợi lên hình ảnh triền miên vô tận cả trong không gian và thời gian, đủ thấy nỗi nhớ của người thiếu phụ ấy sâu thẳm và bao la ra sao.

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”.

Nếu như ở những khổ thơ trước, nỗi nhớ của người chinh phụ được khắc họa qua những đồ vật, mượn đồ vật để nói lên nỗi khắc khoải mong chờ của con người thì ở khổ thơ này nỗi nhớ ấy được thể hiện qua chính những hành động của người chinh phụ. Hành động đốt hương thì khiến cho tâm hồn con người như trầm luân, lấy gương soi lại thấy nước mắt đầm đìa, nhớ về những kỉ niệm cùng người chinh phu. Gảy đàn thì sợ đứt dây, sợ rằng một điềm không may có thể xảy đến với người chinh phu. Phép liệt kê một loạt những hành động, hành động nào cũng là “gượng”, sự chờ đợi lo lắng cho người chinh phu dường như đã khiến người thê tử kiệt quệ.

“Lòng này gửi gió đông có tiện ?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”.

Người chồng chinh chiến biền biệt phương xa, người chinh phụ chỉ còn cách mượn những gọn gió gửi tới chàng tình cảm và nỗi nhớ thương. Nỗi nhớ ấy được đo đếm bằng tính từ “thăm thẳm” gợi một chiều sâu mênh mang, bất tận mà đau đáu khôn nguôi. Thế gian ai đo được đường lên trời, ấy vậy nhưng nỗi lòng của người chinh phụ lại sâu thẳm như chính con đường ấy. Đoạn thơ không những thể hiện nỗi cô độc mà còn nói lên khát khao hạnh phúc của người chinh phụ, mong mỏi người quân tử trở về sống trong vòng tay và tình yêu của gia đình.

Phan Tich Doan Trich Tinh Canh Le Loi Cua Nguoi Chinh Phu
Phân Tích Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ | Văn Mẫu

“Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,

Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.

Lá màn lay ngọn gió xuyên,

Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.

Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!”

Song song với hình ảnh mòn mỏi chờ đợi của người chinh phụ là những hình ảnh đối lập của cảnh vật, bên ngoài trời gió thốc từng cơn, tiếng dế kêu trong màn đêm, tất cả như hiện lên trong bóng đêm như vẫn thường thế, người chinh phụ chờ chồng cũng đằng đẵng tháng năm không thay đổi. Tác giả cũng nhắc đến hình ảnh trăng và hoa; hoa thì thắm từng bông còn trăng thì sáng tỏ bóng những bông hoa. Trước cảnh đẹp ấy thông thường con người sẽ xao xuyến lay động mà thưởng ngoạn, ở đây người chinh phụ lại quặn thắt nỗi đau, quả đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Hình ảnh trăng hoa quấn quýt còn gợi liên tưởng đến những thuở còn mặn nồng, ông tơ bà nguyệt xe duyên hai vợ chồng còn được bên cạnh nhau. Còn giờ đây, cũng là “nguyệt” nhưng dưới “nguyệt” chỉ có bóng dáng cô đơn cùng nỗi đau quặn thắt của mình người thê tử.

Đoạn thơ đã lần lượt nói lên nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi cùng niềm thương nhớ người chinh phu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Đọc qua người đọc chỉ thấy được những tình cảnh thê lương của từng nếp nhà khi sự chia cắt xảy ra nhưng sâu trong đó là cái hiện thực tàn khốc của chiến tranh của phân li, một hiện thực đau đớn của thời đại.

Tình cảnh người chinh phụ chờ chồng vừa cho thấy sự thủy chung của người thiếu phụ trong hoàn cảnh chồng đi chinh chiến biền biệt ở xa, mặt khác cũng lột tả sự khắc nghiệt của chiến tranh khi chia cắt hạnh phúc gia đình làm những người vợ chồng, mẹ con phải xa nhau. Tất cả những điều đó đã được người tác giả thể hiện qua những gì mà người chinh phụ đã thể hiện trong bài. Đó là sự phản kháng và lên án chiến tranh phi nghĩa cùng với việc đề cao khát vọng sống hạnh phúc tự do của con người. Đó cũng chính là lý do tác phẩm của Đặng Trần Côn vừa ra đời đã đi sâu vào giới nho sỹ đương thời và những người thưởng thơ mãi về sau.

>> XEM THÊM: Tài Liệu Văn

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục