Mon, 04 / 2018 4:06 pm | thuylinh

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Lớp 11 Của Nguyễn Bính | Văn Mẫu

Bài Làm

Được mệnh danh là nhà thơ của sự chân quê và bình dị, những tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Bính luôn là những tác phẩm ấn tượng với âm hưởng dân gian. Nguyễn Bính – một nhà thơ của phong trào thơ mới Việt Nam, ông là một trong những nhà thơ tài năng và có phong cách thơ riêng biệt, thơ mới nhưng lại mang đậm tính dân gian. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Nguyễn Bính chính là tác phẩm Tương tư.

Tương tư là tiếng nói bày tỏ của một chàng trai trong tình cảm dành cho người con gái mình thương yêu. Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Loading...

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…”

Ngay đầu tác phẩm, Nguyễn Bính đã sử dụng hình ảnh vế đối: đối giữa thôn Đoài và thôn Đông. Hình ảnh thôn quê với những tên gọi rất bình dị là những hình ảnh vô cùng gắn bó với cuộc sống của người dân. Trong hai thôn này, có một thôn có người con gái mà chàng trai thương yêu. Chàng trai coi nỗi niềm tương tư của mình là một căn bệnh và căn bệnh ấy dai dẳng vô phương cứu chữa giống như hiện tượng nắng mưa của trời đất. Ngay ở khổ thơ đầu, tác giả đã mượn những hình ảnh thân thuộc của làng quê, mượn những hiện tượng bất biến của thiên nhiên thời tiết để bày tỏ nỗi nhớ cùng những cảm xúc của bản thân.

“Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”

Đoạn thơ là lời trách cứ của chàng trai với người mình thương yêu. Có một chút bất thường trong đoạn thơ này. Thông thường, trong một mối quan hệ người con trai sẽ là người chủ động, người tiến tới tìm cô gái và bày tỏ lời yêu. Nhưng ở đây mọi việc dường như ngược lại, chàng trai lại trách cô gái dù cùng chung một làng nhưng lại chẳng chịu ngó ngàng gì đến anh. Chính vì vậy, chàng trai đã ngồi chờ đợi cô gái đến mức mùa cây thay lá. Sự trách cứ cô gái của chàng trai càng chứng tỏ rằng tình cảm của chàng trai rất mãnh liệt, có mãnh liệt như vậy thì người ta thấp thỏm, đợi chờ; chàng trai thậm chí cảm nhận được sự cách trở và xa xôi trong cả không gian (một làng) và thời gian (lá xanh nhuộm thành lá vàng). Không gian giữa hai thôn rất gần nhưng thời gian để cô gái tìm đến chàng trai lại kéo dài tưởng như vô vọng.

“Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Những đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

Đoạn thơ tiếp tục là một lời trách cứ của chàng trai về lý do cô gái không sang tìm mình. Trong đoạn thơ này, một loạt các hình ảnh biểu tượng của làng quê đã được gợi nhắc: con đò, bến nước, sân đình. Những hình ảnh gắn bó với nhau tựa như số phận đã cho hai con người được ở gần nhau về không gian địa lý và có thể sẽ không tách rời nhau trong cuộc sống. Sự trách cứ của chàng trai ấy thế nhưng lại không phải sự oán thán, thở than mà là một lời trách yêu, một sự giận dỗi với người con gái mình thương. Cách yêu của chàng trai quả là vừa lạ lùng lại có chút trẻ con. Người xưa có câu “Yêu nhau mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua” vậy mà ở đây cô gái chỉ cách có một đầu đình vậy mà tình cảm lại xa xôi như cách trở đò giang.

phan tich bai tho tuong tu
Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Lớp 11 Của Nguyễn Bính | Văn Mẫu

 

“Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

Qua hai khổ thơ trách móc cô gái không đến tìm mình, phớt lờ tình cảm của mình đến đây nhà thơ lại quay trở lại gặm nhấm nỗi buồn tương tư của mình. Chàng trai bày tỏ nỗi lòng mình bằng hình ảnh trăn trở, thao thức mỗi đêm. Nỗi thao thức ấy khiến nhà thơ đã phải bật thốt lên “bao giờ bến mới gặp đò”, từ “bao giờ” ấy diễn tả một nỗi trông ngóng đến tột cùng một sự chờ đợi để cô gái gặp được chàng trai.

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Khổ thơ cuối cùng, hình ảnh trầu và cau được nhắc đến như gợi về một mối lương duyên trăm năm. Cau và trầu thường được dùng để dạm ngõ, trong những đám, giỗ, tiệc tùng. Ở đây hình ảnh cau trầu của hai nhà là một phép ẩn dụ tượng trưng cho nỗi mong mỏi được về chung một nhà của chàng trai. Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông tiếp tục được nhắc lại ở cuối bài thơ trở thành hình ảnh đại diện cho nỗi nhớ của chàng trai dành cho cô gái ở đầu kia.

Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mỗi câu đều như những câu ca dao dân ca, mỗi câu đều nhịp nhàng ngọt ngào và uyển chuyển, từng vần thơ như từng nốt nhạc đi vào lòng người đọc. Bên cạnh đó phép đối được sử dụng trong từng câu, đối từ, đối nhịp, đối ngữ nghĩa càng làm nổi bật lên nỗi tương tư của chàng trai và sự thờ ơ của cô gái. Những hình ảnh trong thơ đều hết sức quen thuộc với cuộc sống thường ngày của người dân, là những hình ảnh mang tính chất biểu tượng cho thôn quê. Bởi vậy nên mới nói Nguyễn Bính là nhà thơ bình dị, dân giã, chân quê của thơ ca Việt Nam. một nhà thơ luôn song hành với cuộc sống của người dân.

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Tôi Yêu Em

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục