Fri, 03 / 2018 4:52 pm | thuylinh

Đề bài: Phân Tích Bài Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Bài Làm

Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ được quan niệm "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", điều đó có nghĩa người phụ nữ khi lập gia thất thì phải hết lòng phục vụ chồng mình, lẽ hy sinh đó là điều hiển nhiên, mấy ai hiểu được cho nỗi lòng người vợ. Thế nhưng nhà thơ Trần Tế Xương, nổi danh với những phong cách thơ trào phúng và châm biếm lại luôn thấu hiểu được những cam chịu cùng vất vả của người vợ tận tụy của mình. Ông đã bày tỏ những tình cảm ấy cùng lòng biết ơn ấy qua bài thơ Thương vợ nổi tiếng, được người đời lưu truyền, giới Nho sỹ kính trọng:

"Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Loading...

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không"

Bài thơ có bố cục tiêu chuẩn của thể thơ thất ngôn bát cú, với cấu trúc bao gồm các phần đề, thực, luận, kết; Trần Tế Xương đã cho người đọc thấy được lần lượt hình ảnh một người vợ tảo tần sớm hôm "Quanh năm buôn bán ở mom sông". Bà Tú được giới thiệu ngay đầu tiên với nghề buôn bán ở ven sông, cái nghề buôn bán ở đây là nay gánh hàng này, mai gánh hàng nọ, ngồi lê lết, dãi nắng dầm mưa, phơi mặt cả buổi nơi ven sông vô cùng vất vả. Vậy mà cái nghề ấy bà Tú đã làm quanh năm, không phải ngày một ngày hai, không có khái niệm thứ 7, chủ nhật, ngày lễ ngày nghỉ, bà làm quanh năm suốt tháng, cái thời gian đằng đẵng như cả một đời người. Mặc dù chỉ là buôn những gánh hàng nhỏ, một thân một mình nhưng bà Tú vẫn "Nuôi đủ năm con với một chồng", người chồng được đặt ngang hàng vỡi lũ con với 2 nghĩa. Thứ nhất một miệng ăn của người chồng cũng bằng tới 5 miệng ăn của những đứa con. Chúng chỉ cần cái ăn cái mặc, nhưng ông thì còn cần thêm cái lều cái chõng, tức là mỗi bận quan trường đi thi, người vợ lại phải lo tiền ăn, tiền đi đường, giấy mực cho người chồng. Nghĩa thứ hai ta cũng có thể hiểu như một sự trào phúng, người chồng ví mình vô dụng như một con vật, như một đứa trẻ thơ khi ăn bám vợ, trông chờ vào những ngày buôn bán của vợ để có thể vừa sinh nhai vừa phụng nghiệp học hành.

Hai câu thơ đầu bài đã giới thiệu sơ lược về nghề nghiệp của bà Tú cùng hoàn cảnh gia đình, mình bà làm nuôi tới 7 miệng ăn. Ở hai câu thơ kế tiếp, nhà thơ đã đi sâu hơn vào việc đặc tả công việc của người vợ "Lặn lội thân cò khi quãng vắng – Eo sèo mặt nước buổi đò đông". Câu thơ dựa trên hình ảnh biểu tượng của ca dao dân gian quen thuộc "Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non", hình ảnh con cò gắn liền với hình ảnh những người lao động lam lũ, sớm nắng chiều mưa vẫn nhặt nhạnh kiếm miếng ăn. Từ láy "lặn lội", "eo sèo" diễn tả khung cảnh heo hút, tối tăm, buồn thảm mà bà Tú đang đơn độc làm việc. Bà làm việc trong mọi không gian và thời gian bất kể ngày đông ngày hạ, quãng vắng hay buổi đò đông. Dễ thấy bà Tú là một người rất cần mẫn, chịu thương chịu khó, luôn chân luôn tay và cái nhìn mà nhà thơ gửi gắm qua những câu từ ấy là một người vợ có những đức tính của công dung ngôn hạnh.

 

Phân tích bài thơ thương vợ của trần tế xương

 

"Một duyên hai nợ âu đành phận – Năm nắng mười mưa dám quản công", những từ số đếm lần lượt xuất hiện theo thứ tự tăng tiến và đối lập nhau: một – hai, năm – mười giống như nỗi vất vả sương gió đi về mà bà Tú trải qua. Người xưa quan niệm con người ta đến với nhau cũng là do cái duyên cái phận. Người chồng ở đây thôi đành chỉ than thay người vợ đã không có phận tốt lấy được người chồng có thể lo cho vợ con. Câu thơ cũng thể hiện cái nhìn nhận của ông Tú về đức tính nhẫn nhịn của vợ mình tuy vất vả là vậy nhưng bà không hề kêu than, kể công. Ở bà Tú ta thấy hiện lên một người phụ nữ điển hình trong xã hội xưa hết lòng vì gia đình, cam chịu, nhẫn nhục và thái độ của bà là đón nhận nó hết sức hiển nhiên không oán trách nửa lời.

Những câu thơ trên, tác giả đã nói về việc làm cùng những đức tính cao quý của người vợ để rồi ở hai câu thơ cuối tác giả đúc kết lại "Cha mẹ thói đời ăn ở bạc – Có chồng hờ hững cũng như không". Câu thơ là tiếng chửi của nhà thơ về cái thói đời, cái thói đời quan niệm là đàn ông thì phải có danh gì trong thiên hạ, quan niệm người phụ nữ là phải hy sinh cho chồng cho con, cái thói đời bạc bẽo ấy đã khiến cho những người vợ như bà Tú phải khổ. Sau khi chửi đời nhà thơ lại quay về chửi chính mình là một ông chồng "hờ hững", có người chồng như vậy thì thà không có còn hơn. Trong xã hội xưa, gia trưởng là đức tính chung của đa số đàn ông, họ coi việc làm của người phụ nữ là điều hiển nhiên, họ có quyền là người ở trên, hiếm có người chồng nào lại chửi mình là một ông chồng vô dụng, không lo nổi cho vợ con, để vợ mình phải vất vả như ông Tú. Cái sự trách cứ bản thân ấy của Trần Tế Xương cũng cho thấy ông là một con người tình cảm và có những cái nhìn thực tế khác thời đại, ông hết sức yêu thương vợ, thấu cảm cho nỗi vất vả đắng cay của vợ mình.

Có người nhận xét rằng, cả bài thơ Trần Tế Xương chỉ tả về người vợ nhưng hình bóng của ông lại đi cùng suốt chặng đường. Ông đã dõi theo vợ bằng cả ánh mắt và trái tim. Ánh mắt ấy nhìn được những công việc vất vả lo toan của vợ và trái tim ấy hiểu và biết ơn người vợ của mình sâu sắc. Quả thật là như vậy, từng câu thơ đọc lên dù có đau đớn, có chua xót, có mỉa mai nhưng trên tất cả, nhà thơ vẫn bộc lộ lòng biết ơn sâu sắc đến người vợ của mình.

Thơ Tú Xương là vậy, trào phúng nhưng sâu cay. Và bên cạnh những giễu cợt, tiếng chửi đổng là những tình cảm nồng cháy của một con người giàu tình yêu thương và lòng nhân ái. Tiếc rằng tác giả Trần Tế Xương đã ra đi khi tuổi đời còn trẻ (37 tuổi) nên sự nghiệp văn chương mà ông để lại cho đời còn chưa nhiều. Dù vậy, chỉ với tác phẩm Thương vợ, Trần Tế Xương đã mãi mãi là cái tên không thể bỏ qua trong văn đàn Việt Nam.

>> XEM THÊM:

Loading...
Spread the love
Bài viết cùng chuyên mục