Wed, 03 / 2018 4:27 pm | thuylinh

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Lớp 10 Của Phạm Ngũ Lão

Bài Làm

Trong thời đại nhà Trần chiến công hiển hách, Phạm Ngũ Lão là một vị tướng tài bên cạnh nhà vua, là một trợ thủ đắc lực thao lược cả văn võ nhưng có xuất thân và phong cách sống bình dị. Ông là một người có lòng trung quân ái quốc, đã cùng với nhân dân lập nên nhiều chiến công vang dội. Bên cạnh đó, Phạm Ngũ Lão còn là một nhà thơ với những tác phẩm sâu sắc mang nhiều giá trị nhân văn, bài thơ Thuật hoài là một trong những tác phẩm hay của ông được nhiều người nhắc đến.

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Loading...

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”.

Dịch nghĩa

“Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,

Ba quân như gấu hổ, át cả sao Ngưu Đẩu.

Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh,

Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu”

Bản dịch của Trần Trọng Kim

“Múa giáo non sông trải mấy thâu,

Ba quân hùng khí át sao Ngưu.

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”.

Mở đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão viết “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu” dịch thơ “Múa giáo non sông trải mấy thâu”. Câu thơ đầu đã nói lên khí phách của nghĩa quân trong thời đại phong kiến khi quân xâm lăng tràn đến. Người lính trong tay luôn cầm chắc cây giáo sẽ khiến cho quân địch phải e sợ. Bên cạnh đó câu thơ phải chăng cũng là một lời khen khéo léo của ông dành cho những đoàn quân của ta khi luôn xông pha trên chiến trường và luôn trong tư thế chủ động múa giáo khắp non sông? Đây cũng là lời tự thuật của nhà thơ khi nhớ về những năm đã qua chinh chiến nơi chiến trường, ngọn giáo làm bạn trên tay. Đi cùng ông qua năm tháng không phải chức tước, danh vọng, tiền tài, nhà thơ cũng không nhắc đến những người thân bên cạnh mà thay vào đó là ngọn giáo trên tay đã cùng chủ nhân của mình ngược xuôi ngang dọc, trải qua biết bao thăng trầm. Ngọn giáo bỗng chốc trở thành biểu tượng cho chí làm trai một đời tung hoành, đồng thời thể hiện uy dũng uy nghiêm của người lính đất việt khiến quân thù phải thua cuộc.

Ở câu tiếp theo “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu” dịch thơ “Ba quân hùng khí át sao Ngưu” nói lên được sự hùng tráng của nghĩa quân nhà Trần, so về tương quan lực lượng, chúng ta không bằng quân Mông Nguyên, nhưng khí thế, lòng yêu nước và sức chiến đấu của chúng ta thì hừng hực át đi sức mạnh của kẻ thù. Cụm từ “ba quân hùng khí” không những cho thấy sức mạnh của những đoàn quân mà qua đây, người đọc có thể nhận ra một sự đoàn kết gắn bó, một tổng thể không thể tách rời. Bởi vì sức mạnh đoàn kết ấy, ba quân mà như hợp về một mối cùng nhau tạo thành làn sóng tiến lên, xua tan những bước đi của kẻ thù. Thủ pháp so sánh hình ảnh ba quân cũng thể hiện sức mạnh và thế chủ động của ta trước kẻ thù.

phan tich bai tho thuat hoai
Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Lớp 10 Của Phạm Ngũ Lão

So kè về lực lượng ta có thể yếu hơn địch, nhưng về hào khí và tinh thần ái quốc thì họ không thể bằng ta. Chúng ta có sức mạnh đoàn kết đến từ mỗi một cá thể nhỏ bé trong ba quân hùng khí ấy. Tác giả cũng luôn tự nhủ rằng “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” –  “Công danh nam tử còn vương nợ – Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. Hai câu thơ như một lời tự vấn, một lời nhắc nhở bản thân về sự nghiệp. Người nam tử chí lớn tài cao đương thời chính là người phải lo công danh sự nghiệp, tề gia trị quốc bình thiên hạ, vậy nên nếu không hoàn thành được nghiệp lớn, tác giả ắt cảm thấy xấu hổ trước tấm gương Vũ hầu (Khổng Minh) thời tam quốc phân tranh. Lời nhắc nhở của Phạm Ngũ Lão cũng cho thấy tấm lòng kiên định thủy chung với dân tộc và chí hướng rộng lớn của người trai. Nếu như hai câu thơ đầu là lời ngợi khen tấm tắc của một vị tướng về đoàn quân của mình thì ngược lại hai câu thơ sau lại là lời khiển trách nhắc nhở bản thân của ông.

Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, từng câu thơ đều cô đọng súc tích, ngôn từ đanh thép, tác giả vừa gây dựng nên hình ảnh khí quân oai phong, lẫm liệt binh hùng tướng mạnh vừa bộc lộ nét trầm tư sâu lắng trước nghĩa vụ của chí làm trai trong sơn hà. Ấy nhưng cái trầm lắng ấy không phải là một sự sợ sệt, lo lắng mà là cái trầm lắng của một con người nuôi hoài bão và luôn tự mình quyết tâm dựng nghiệp lớn, phụng sự quân vương. Chính cái sự thẹn thùng của một người cầm quân ấy lại minh chứng cho một tâm hồn cao cả, một nhân cách đáng quý của con người hô mưa gọi gió, dưới một người trên vạn người.

Có thể thấy được nhà Trần đã làm nên những chiến công vang dội, chiến thắng được những kẻ thù mà cả thế giới phải kiêng nể ấy cũng là nhờ những công thần như Phạm Ngũ Lão, cả bài thơ tỏ nỗi lòng mình thế nhưng lại không một lời kêu than, uất hận, than trách hay sợ sệt; ở đó ta chỉ thấy tình yêu, niềm tin và niềm tự hào của một người tướng dành cho đoàn quân cho đất nước của mình đồng thời thấy được khí chất và tâm hồn đáng quý của một bề tôi trung thành với quân vương với dân tộc của mình.

Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão không chỉ là một bài nhật kí bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ mà đồng thời cũng là tấm bia sáng ghi lại những trang sử hào hùng của dân tộc một thời và khắc họa được chân dung những con người hiên ngang, kiên cường đã làm nên lịch sử ấy.

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Bài 1

Loading...
Spread the love
Bài viết cùng chuyên mục