Tue, 03 / 2018 4:56 pm | thuylinh

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài Làm

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa nay nổi tiếng là người học rộng tài cao, có hiểu biết uyên thâm. Ông đã từng làm quan trong triều song vì những lục đục chốn quan trường mà cáo quan, xin về ở ẩn. Đây cũng là lúc những tác phẩm thơ của ông ra đời và mang lại những giá trị văn học sâu sắc cho thơ ca Việt Nam. Một trong những tác phẩm xuất sắc của ông được nhiều người biết đến nhất đó chính là bài thơ “Nhàn”:

“Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Loading...

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú với các cấu trúc về thanh, điệu vần thường thấy. Mở đầu bài thơ là hai câu đề đầy thi vị “Một mai một cuốc, một cần câu – Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Bài thơ được viết trong bối cảnh nhà thơ đã cáo quan lui về ở ẩn, chính vì vậy hai câu thơ này là tả về cảnh sống an nhàn ẩn dật của Trạng Trình. Đó là một cuộc sống vui vầy với thiên nhiên, bầu bạn với cây cỏ, làm những công việc nhà nông một cách bình dị nhất, lúc làm vườn, lúc câu cá. Hình ảnh ngư ông ngồi câu cá bên bờ ao bao giờ cũng gợi nên nét tiêu diêu tự tại, vừa câu cá lại như ngẫm về thế gian. Hình ảnh ấy cho thấy một cuộc sống hoàn toàn thanh bình, tĩnh lặng không vướng bận một chút xô bồ của cuộc sống. Điệp từ số lượng “một” – “một” làm cho nhịp điệu câu thơ vừa hài hòa thong dong lại vừa tô đậm cái khung cảnh yên bình nơi Trạng Trình sống.

Trong một bối cảnh như vậy, nhà thơ lại bộc bạch “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ – Người khôn, người đến chốn lao xao”. Nhà thơ tự mình nhận mình là một người dại. Cái dại ở đây là đi ngược với lẽ thường, trong lúc mọi người thường tìm đến những chốn xô bồ, tấp nập, đông đúc thì nhà thơ lại ngược dòng, một mình một chốn vắng vẻ. Bởi vậy nhà thơ mới nói mình dại. Cặp từ trái nghĩa “dại” – “khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao” làm nổi bật lên hai hoàn cảnh và những con người hoàn toàn trái ngược nhau. Hai câu thơ mà như hai câu đối, đối nhau không chỉ bởi vần, từ, ngữ điệu mà còn đối cả về nghĩa. Đã chắc rằng nơi vắng vẻ là nơi “dại” còn chốn lao xao là chốn “khôn”? Chốn lao xao ấy có lẽ cũng là những chốn nhiễu loạn tranh đấu, cắn xé nhau. Còn nơi vắng vẻ đây là nơi an nhàn, vui vầy. Người chọn một cuộc sống tiêu diêu tự tại, yên ả thanh bình với những kẻ lao vào những cuộc đua, những đấu đá và tranh chấp chốn quan trường, vậy thực ra ai mới là người dại và ai mới là người khôn đây.

phan tich bai tho nhan
Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm | Văn Mẫu

Ở hai câu thơ luận, tác giả chuyển qua miêu tả về đời sống sinh hoạt của chính mình “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá – Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nhà thơ khi lui về ở ẩn đã ăn theo mùa nào thức nấy, những thực phẩm hết sức thân quen của vùng quê: “măng”, “giá”. Qua đây người đọc cũng có thể nhận ra nhà thơ đang khéo léo khoe về sản vật phong phú đa dạng của vùng quê. Mặc dù ở ẩn dật, nhưng thức ăn phong phú: nào rau, nào cá, nào măng, giá… những thức ăn dân dã mà nhà thơ coi hơn cả sơn hào hải vị. Một cuộc sống hòa mình vào với thiên nhiên bằng cách “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, câu thơ gợi hình ảnh ao làng trong vắt cùng những hồ nước khi bước vào mùa sen thơm ngát. Hoa sen vốn là biểu tượng của sự trắng trong, thanh khiết “Trong đầm gì đẹp bằng sen” phải chăng nhà thơ đang ngợi ca nhân cách cao đẹp “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bốn mùa xuân hạ thu đông trôi qua trong êm đềm, cuộc sống của người hiền tài cũng không hề nhàm chán mà luôn vui vầy trong cảnh đẹp của làng quê, luôn đủ đầy với những đồ vật dân dã quanh mình.

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống – Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Ở hai câu thơ cuối này, tác giả đã đúc kết lại cái nhìn của mình về cuộc sống. Cảnh sống an nhàn của một người làm quan khi về ở ẩn đó là sống một cuộc sống thảnh thơi, xa lánh  bụi trần, thi thoảng uống chút rượu và nhìn thế gian cười. Cách sử dụng điển tích vào câu thơ như càng khẳng định rằng cuộc sống này của nhà thơ là sự lựa chọn thông minh của những người tài nhưng bị thời cuộc trở thành rào cản. Tác giả dù đã thi đỗ trạng nguyên nhưng với vinh hoa phú quý lại điềm nhiên ngoảnh mặt làm ngơ. Với ông cuộc sống phú quý chính là ăn những thức ăn làng quê, tắm ao làng, làm vườn như một người nông chứ không phải lao vào tranh đấu, cắn xé nhau giành giật công danh tiền tài chốn quan trường. Trong thời buổi nhiễu loạn, hành động lui về ở ẩn không phải là hành vi hèn hạ lẩn tránh nghĩa vụ trung quân ái quốc mà là hành động biết mình biết ta, biết chọn cuộc sống giản dị chứ không đục khoét, tranh giành nơi quan trường.

Tám câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa vẽ ra một bức tranh thôn quê thanh bình, tươi đẹp đầy sức sống của một người ẩn sỹ lại vừa cho thấy những quan điểm, cách nhìn nhận của nhà thơ về một cuộc sống “nhàn” trong chốn quan trường thị phi tranh đấu. Qua đây người đọc cũng thấy được phong cách thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, những vần thơ của ông hết sức đủng đỉnh, tự nhiên như không bị bất kì một ràng buộc nào về cách cấu tứ, gieo vần nhưng đọc lên lại rất đậm chất thơ và đầy tính triết lý và sâu sắc. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm làm thơ mà tự nhiên như kể một câu chuyện về cuộc sống thường ngày vậy.

>> XEM THÊM: Tài Liệu Văn

Loading...
Spread the love
Bài viết cùng chuyên mục