Thu, 03 / 2018 4:32 pm | thuylinh

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Cảnh Ngày Xuân Lớp 9 Trích Truyện Kiều Nguyễn Du

Bài Làm

Được coi là một trong 4 bức tranh tứ bình trong kiệt tác "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, đoạn thơ "Cảnh ngày xuân" có thể nói là một trong những đoạn thơ tả cảnh xuất sắc nhất của tập truyện này, cũng là một trong những đoạn thơ tiêu biểu, đặc trưng của cảnh mùa xuân trong thơ ca Việt Nam. Mở đầu đoạn thơ là cảnh báo xuân tươi đẹp:

"Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Loading...

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Hình ảnh chim én bao giờ cũng là biểu tượng của mùa xuân. "Én báo xuân sang" đàn én bay về bao giờ cũng báo hiệu cho mùa xuân đã tới. Ở đây đàn én đã chao liệng qua lại giống như con thoi đưa trên khung cửi chứng tỏ rằng mùa xuân đang vào những ngày giữa tiết. Để minh chứng thêm cho điều đó, tác giả đã sử dụng số từ để chỉ thời gian "thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi". Như vậy, đã qua 60 ngày kể từ ngày lập xuân, cũng có nghĩa là đã đến tiết thanh minh. Hai câu thơ sử dụng bút pháp tượng trưng để giới thiệu về tiết thanh minh.

Trong cảnh xuân tươi đẹp ấy, cỏ non mượt mà nhưng những chiếc thảm xanh ngắt trải đến tận chân trời. Mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, hình ảnh cỏ xanh vốn luôn khiến cho con người có một cảm giác đầy sức sống, ở đây cỏ lại trải hút tầm mắt đến tận chân trời, khiến cho người đọc cảm giác mùa xuân mênh mang, bất tận về trong đất trời.

Dưới đất là cỏ non xanh mượt, bên trên lại là những bông hoa lê điểm trắng trên cành. Hoa lê trắng tinh gợi lên cảm giác tinh khôi, thanh khiết, ngọc ngà; đồng thời hoa lê cũng gợi lên vẻ cao sang, quý phái cho bốn bề vây quanh. Hoa lê điểm xuyết trên cành như e ấp chào đón trời xuân. Nếu ở hai câu thơ trên, tác giả sử dụng bút pháp tượng trưng thì hai câu thơ dưới, bút pháp chấm phá, một nghệ thuật đặc trưng của phương Đông đã được tác giả vận dụng triệt để để phác họa nên một bức tranh mùa xuân với những nét nhấn nhá hài hòa mà màu sắc.

Đây có thể nói là hai câu thơ xuất sắc nhất để tả về cảnh sắc ngày xuân trong truyện Kiều. Giống như khi tả về mùa hè, tác giả viết "Dưới trăng quyên đã gọi hè – Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông". Hay khi viết về mùa thu, tác giả lại tả "Long lanh đáy nước in trời – Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng". Còn khi tả về mùa đông, tác giả viết "Sen tàn cúc lại nở hoa – Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân".

phân tích bài thơ cảnh ngày xuân

"Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ở khổ thơ tiếp theo, tác giả tập trung đặc tả quang cảnh con người và không khí ngày thanh minh. Thanh minh là một trong những ngày lễ lớn của năm. Vào ngày này, con cháu dù ở đâu cũng về đi tảo mộ, thăm mộ ông bà, tổ tiên, dọn cỏ thắp hương. Trong một ngày lễ lớn bao giờ cũng có hai phần là phần lễ và phần hội. Lễ ở đây là con người đã tiến hành tảo mộ, hương khói cho các cụ; còn hội là phần cho tác nam thanh nữ tú giao lưu hò hẹn. Trong ngày thanh minh này, trai anh hùng, gái thuyền quyên đều hội tụ, xa gần yến anh tề tựu và đi chơi xuân. Trong số yến anh sắm sửa du xuân ấy, có cả bóng dáng xinh đẹp của các chị em nhà Kiều.

"Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay"

Trong không khí trời quang đãng của ngày thanh minh, trai gái thanh lịch đi lại dập dìu ngựa xe. Người người từ muôn phương đổ về tạo thành một cảnh tượng vô cùng tấp nập. Thêm vào đó là cảnh hương khói nghi ngút, tro tiền bay phất phơ trên bầu trời, tất cả tạo nên một không gian vô cùng huyên náo, nhộn nhịp. Một bức tranh sống động mà trong đó từ cảnh vật đến con người đều không ngừng chuyển động, dịch chuyển.

“Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước lần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …

Ở khổ thơ cuối cùng cũng là lúc kết thúc một ngày hội, ấy là khi mặt trời đã dần lặn về phương Tây, hội cũng đã kết thúc, chị em cùng dắt tay nhau ra về. Cảnh tượng thẩn thơ bước về gợi lên sự tiếc nuối buồn bã của con người sau khi trải qua một ngày vui mà không nỡ phải chia tay ra về.

Lúc này, chị em Kiều cũng thong dong thả bước về nhà vừa ngắm xem khung cảnh hai bên đường. Có lẽ vào lúc thả bộ về thế này, nàng Kiều mới có tâm trạng để quan sát và ngắm nhìn cảnh vật xung quanh từ con suối, cây cầu đến phong cảnh hai bên đường. Một loạt các từ láy được sử dụng xen kẽ: "thơ thẩn", "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" vừa gợi một nhịp điệu nhẹ nhàng, chầm chậm lại vừa gợi nên nét gì đó trầm mặc, buồn bã, sầu tư. Cảnh vật như vậy hay có lẽ đó là do tâm trạng của con người đang chùng xuống "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

Cách nhìn nhận của Kiều như báo hiệu trước một điềm không vui nào đó có thể xảy đến, và sự thực đúng là như vậy, đây cũng là tiền đề cho những giọt nước mắt khóc cho Đạm Tiên, cho cuộc gặp gỡ định mệnh với chàng Kim Trọng và cho cả một cuộc đời đầy biến cố của Thúy Kiều về sau.

Đoạn thơ khép lại trong sự tiếc nuối của chị em Kiều cũng là lúc cảnh chiều buông xuống kết thúc ngày lễ thanh minh. Bằng 18 câu thơ với những bút pháp nghệ thuật đậm chất phương Đông, Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh ngày xuân vừa mộng mơ, lãng mạn lại có những cảm xúc vui buồn lẫn lộn, làm người đọc đi theo từng mạch cảm xúc của bài thơ không thể dứt ra. Đúng là tả cảnh 4 mùa, không ai có thể qua được đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

>> XEM THÊM: 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục