Fri, 12 / 2017 7:30 pm | admin

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. (Bài làm văn của bạn Đặng Thị Tâm được 9 điểm).

Đề bài: Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Việt Bắc Của Tố Hữu | Tài Liệu Văn

Bài Làm

Cuộc vui nào không kể đến phút chia ly. Nhưng có lẽ để mang đến một bức tranh chia ly trong sự bịn rịn của người ra đi, kẻ ở lại như cách mà Tố Hữu thể hiện trong 8 câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc chắc chắn xưa nay chưa ai có thể lặp lại cảm xúc chân thật đến run rẩy từng làn da thơ thịt đến thế:

"- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…"

Không chỉ là 8 câu thơ mà đó còn là khúc giao thời của lòng người: cuộc bàn giao giữa chiến tranh và hòa bình đặt ra những vấn để tư tưởng, tình cảm rất bức thiết. Liệu cuộc sống hòa bình, yên vui có làm cho người ta quên đi nhân dân đã đổ máu xương làm nên thành công của cuộc cách mạng, ham hưởng thụ hòa bình có làm người ta quên đi những tháng năm gian khổ, nghĩa tình: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

Loading...

phân tích 8 câu đầu bài việt bắc của tố hữu

Chỉ những lúc người ta dễ quên nhất ấy, bài thơ “ Việt Bắc” xuất hiện vừa để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng, vừa như một lời nhắc nhở kịp thời, sâu lắng làm lay động lòng người. Hãy nhớ lấy máu xương và nghĩa tình sâu nặng của nhân dân, hãy giữ lấy những tình cảm thủy chung của nhân dân đối với Cách mạng. Đây là thời điểm nhắc nhở rất có ích không chỉ cho lúc bấy giờ mà còn cho cả mai sau.Vị trí đoạn trích nằm ở phần đầu bài thơ, tái hiện một Việt Bắc trong tình yêu và nỗi nhớ của anh cán bộ miền xuôi. Đó là khúc ân tình trong bài ca trữ tình – chính trị “Việt Bắc” đằm thắm vào bậc nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại.

Khung cảnh mở đầu cho Việt Bắc mà Tố Hữu mang đến là 8 câu thơ gây xúc động lòng người bởi sự lưu luyến, bịn rụn, bang khuâng của kẻ di người ở lại trong ngày chia tay. Không khó để nhận ra 4 câu thơ đầu là lời cả người ở lại.

Trong cuộc chia tay ất người ở lại là người lên tiếng trước giống như trong ca dao dân ca, giao duyên xưa. Người ở lại đã gợi nhắc những kỷ niệm gắn bố suốt 15 năm với biết bao gian khổ,  khổ khăn. Là Tố Hữu cố ý vẽ cảnh ly biệt nên đứng trước cảnh ly biệt ấy ta như bị nhuốm màu chia ly. Thêm đó việc tác giả đặt 2 đại từ "mình – ta" ở 2 câu đầu câu thơ càng tạo ra cảm giác xa xôi trăn trở ở giữa là tình cảnh băn khoăn day dứt khôn nguôi của người ở lại.

Người ở lại không nén được lòng mình nên đã đưa ra câu hỏi dồn dập, tha thiết "có nhớ ta", "có nhớ không?"… lời người ở lại sợ người ra đi trở về thành thị xa xôi, vui nhộn sẽ quên hết kỷ niệm. 2 câu hỏi, một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian, thời gian (15 năm) một quãng thời gian không phải quá dài mà cũng không phải quá ngắn những đã có biết bao cuộc tình, biết bao kỷ niẹm gắn bó thiết tha mặn nồng.

Câu hỏi về không gian thì người ở lại nhớ người ra đi, nhớ cảnh và người Việt Bắc có biết bao người tình đối với người kháng chiến. Người ở lại gợi nhắc nhở người ra đi: Người ở lại cũng hồi tưởng nhớ về quê hương, bởi núi là quan hệ của cây, người là nơi bắt nguồn của mỗi dòng sông… Câu thơ gợi đến câu ca dao "Con người có tổ có tông/ Như chim có tổ, như sống có nguồn". Người ở lại là người hỏi người ra nhưng đồng thời cũng hành động vẫn sẽ mãi mãi nhớ trọn tấm lòng thuỷ chung của mình dù hoàn cảnh có đổi thay. Để rồi từ đó, người ra đi đáp lại người ở lại bằng bốn câu thơ:

"- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…"

4 câu thơ tiếp của khổ đầu chính là tiếng lòng của người ra đi. Người ra đi không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng trong lòng cũng mang nặng một nỗi nhớ khôn nguôi, người ra đi im lặng lắng nghe lời của người ở lại. Sự im lặng ấy là để tri âm tiếng ai đó ngân vang đai sâu vào tâm hồn mình. Người ra đi không trực tiếp nói bằng lời nó được diễn tả bằng sự bân khuâng trong tâm hồn đầy nhớ thương.

Người ở lại nói "thiết tha" người ra đi thì nghe thiết tha tạo nên một sự hô ứng đồng vọng thật gần gũi, thân thương. Trong câu thơ tác giả sử dụng rất nhiều từ láy giàu sức gợi cảm: bâng khuâng, bồn chồn,… cho thấy trong cuộc chai tay cả người ở kẻ đi đến lưu luyến, nghẹn ngào.

Giữa người đi và kẻ ở chỉ biết cầm tay nghẹn ngào không nói lên lời trong cái cầm tay ấy chứa bao điều muốn nói thành lời nhưng không thể nói ra. Cuộc chia tay giữa người cán bộ về xuôi có hình ảnh "áo chàm"- Hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho toàn bộ người dân Việt Bắc trong ngày tiễn biệt, những người cách mạng về xuôi, hành động buông áo. Hình ảnh ấy còn gợi nhắc tình cảm thuỷ chung sâu sặng:

"Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳn nhoà"

Người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi đó mà thay vào đó người ra đi thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi: "Tiếng ai tha thiết bên cồn". "Ai" là đại từ không xác định. "Ai" có thể là nhân vật đang xuất hiện trước mắt người ra đi, quen thuộc với người ra đi – một con người cụ thể xuất hiện "bên cồn" trong buổi chia li. "Ai" có thể là bất cứ người dân Việt Bắc đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi.

Dù hiểu theo cách nào thì ấn tượng tác động đến người ra đi là âm thanh tiếng nói tha thiết – đó chính là âm thanh rất đỗi ngọt ngào, thiết tha, sâu lắng. Và âm thanh đó dường như gọi về biết bao kỉ niệm, biết bao buổi trò chuyện tâm tình và âm thanh đó gọi về mối tình keo sơn gắn bó thân thiết giữa người ở lại với người ra đi.

Chính âm thanh đó đã khiến cho người ra đi "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi". Câu thơ ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan đối lập giữa bên trong và bên ngoài. "Trong dạ" thì "bâng khuâng" còn hành động bên ngoài biểu hiện sự "bồn chồn" thấp thỏm của người ra đi, nhưng lại có sự tương đồng trong cảm xúc và hành động. Chính vì cảm xúc "bâng khuâng" thì mới có hành động "bồn chồn" đó được.

Dấu ba chấm xuất hiện cuối dòng thơ như nốt nặng không lời, nhưng chính nó lại quý giá hơn rất nhiều những lời nói thường ngày bởi cái cầm tay đã nói lên tất cả những lưu luyến, bịn rịn. Câu thơ kết lại đoạn thơ có nhịp thơ thay đổi khác thường. Sự thay đổi của nhịp thơ không chỉ tạo nên sự ngập ngừng cho giọng điệu của câu thơ mà còn tạo nên cái ngập ngừng của tình cảm. Và đồng thời sự khác lạ trong nhịp thơ ấy đã diễn tả sự khác lạ trong diễn biến tình cảm của kẻ ở người đi.

Đoạn thơ là tiếng lòng của người đi kẻ ở trong buổi chia tay đầy bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng nó được thể hiện bằng lối đối đáp quen thuộc trong ca dao dân ca. Cặp đại từ  xưng hô "mình-tôi" giống như một khúc hát giao duyên vừa đằm thắm vừa nặng nghĩa tình "Mình" ở đây là tình cảm của người ra đi kháng chiến về xuôi "ta" là để chỉ người dân Việt Bắc. Cặp đại từ xưng hô "mình-ta" trong ca dao dân ca được sử dụng để nói về tình yêu đôi lứa, tình cảm riêng tư nhưng ở đây TH đã sử dụng để chuyển tải tình cảm của người cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc và ngược lại. Đó là tình cảm chúng thuỷ gắn bó giữa nhân dân và cách mạng.

Hãy kể cho tôi một câu chuyện chia ly khiến chúng ta lắng động cùng mỗi câu chữ. Việt Bắc chính là thế, chỉ với tám dòng thơ mở đầu, người đọc cảm nhận một cách khá đầy đủ âm hưởng chung của cả bài thơ, âm hưởng khúc hát đối đáp, khúc hát ru nhẹ nhàng sâu lắng. Cùng với ngôn ngữ đậm màu sắc trữ tình của ca dao chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc đặc trưng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu.

>>>XEM THÊM: 

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục