Wed, 01 / 2018 7:11 am | admin

Đề bài: Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão

Bài Làm

Trong thời kỳ phong kiến ở nước ta, triều đại nhà Trần đã ghi những dấu ấn đậm nét. Tiêu biểu là ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lẫy lừng, là triều đại mà hào khí Đông A được lan tỏa rộng khắp và còn truyền cảm hứng cho tới tận ngày nay. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.  Điều đó thể hiện rằng dân tộc ta không những hào hùng trong chiến tranh chống ngoại xâm mà còn rất thi vị trong cuộc sống thường nhật. Lúc nhàn rỗi thì làm thơ, vịnh cảnh, lúc nước nhà lâm nguy thì bỏ tay bút mà cầm tay kiếm xông pha trận mạc. Và trong số các tướng lĩnh nhà Trần, Phạm Ngũ Lão cũng là một trường hợp như vậy. Ngoài những chiến công hiển hách và cuộc đời huyền thoại, ông còn để lại cho hậu thế những vần thơ mang tư tưởng của một vị tướng tài luôn đau đáu những nỗi niềm đối với non sông đất nước. Bài thơ Thuật Hoài (Tỏ lòng) là một trong những áng thơ tiêu biểu cho một thời kì lịch sử, cho chí khí của người trai Đông A.

Sinh thời Phạm Ngũ Lão là một danh tướng lẫy lừng đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 và thứ 3 (năm 1285 và năm 1288). Ông cũng là người được Hưng Đạo vương gả con gái ruột cho, một điều hiếm hoi trong bối cảnh nhà Trần thường có những cuộc hôn phối nội tộc. Ông cũng là một tấm gương cho những người có chí lớn, không chịu sống đời thấp hèn, bằng phẳng. Chuyện kể rằng bạn cùng trang lứa với Phạm Ngũ Lão thi đỗ khoa cử và vinh quy về làng. Mọi người đều đến dự, riêng ông thì ở nhà, hỏi ra mới biết, ông thấy mình còn kém cỏi, chưa có công danh gì mà đến dự thì tự cảm thấy xấu hổ. Vậy nên ông đã tìm đi theo con đường binh nghiệp, và trở thành một trong những tướng lĩnh quan trọng của nhà Trần trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Giấc mộng lập công danh luôn là điều ám ảnh những kẻ sĩ, đại trượng phu thời phong kiến, đó là một “quỹ đạo” chung trong hàng ngàn năm phong kiến. Nhưng trong bài thơ này, con người đã được phác bằng những câu thơ có sức khái quát cao độ tinh thần dân tộc tự cường.

Hoành sóc giang san cáp kỉ thu

Loading...

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu

(Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu)

Câu khai đề của bài thơ đã tạo một tư thế rất đẹp của con người. Chữ "hoành" khiến tầm vóc con người như vươn lên ngang tầm sông núi. Không những thế, trong mối tương quan con người – thời gian còn làm nổi bật ấn tượng về sự bền bỉ , uy dũng của người trai Đông A. Bởi lẽ con người không chỉ đứng đó trong thoáng chốc mà đã trải qua "mấy thu" rồi. Câu thơ đã tạo lập một tư thế con người hiên ngang, khí phái giữa đất trời, ngang tầm vũ trụ. Chữ “hoành” có thể hiểu được là hành động, là sự chiến đấu trong chiến tranh, “sóc” ở đây chính là một loại vũ khí của thời đại nhà Trần, chính vũ khí này đã là nỗi khiếp đảm của quân Nguyên với ngựa khỏe, cung cứng. Vậy mà sự “múa giáo” ấy cũng đã trải qua “mấy thu”. Thời gian ở đây là thời gian ước lệ, tượng trưng. Đây là một  đặc điểm dễ thấy của thơ ca thời đại phong kiến. “Mấy thu” có thể là để chỉ thời điểm Phạm Ngũ Lão bắt đầu con đường binh nghiệp, hoặc cũng là để ước lệ một thời gian đã qua, khi ông trải qua những trận chiến và ngẫm lại những gì đã qua. Hình ảnh “cắp ngang ngọn giáo” trải qua mấy thu tương quan với hai từ “giang san”. Ở đây con người đã sánh ngang với vũ trụ, non sông. Điều đó cho thấy chí khí mạnh mẽ chưa từng thấy của con người thời đại. Hình ảnh đó đã cho thấy một tầm vóc lớn lao, vừa mang tầm vóc không gian  vừa mang kích thước của chiều dài lịch sử.

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng

Vậy nên ta cũng không hề khó hiểu khi trong câu tiếp theo, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ thậm xưng để nói lên sự hùng dũng, mạnh mẽ của một đội quân đất Việt. Nếu như câu thơ mở đầu dường như để miêu tả riêng Phạm Ngũ Lão, thì tới câu tiếp theo tác giả đã cho thấy sự đoàn kết, uy lực của quân đội nhà Trần. “Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu”. Ba quân tướng sĩ được ông ví như những mãnh hổ, sức có thể nuốt trôi được sao Ngưu trên trời hoặc cũng có thể hiểu rằng “nuốt trôi cả trâu”. Bởi có sức như hổ, nên có thể đánh bại mọi sự xâm lược, mọi kẻ thù. Ở câu thơ này hình ảnh người lính không còn đơn lẻ mà đã hợp nhất làm một, là hình ảnh chung cho hàng vạn người trai thời đại. Nếu ở câu thơ đầu tiên, vẻ đẹp của con người được cá nhân hóa, đứng trong chiều dài lịch sử và chiều rộng của vũ trụ thì ở câu thơ thứ hai, vẻ đẹp đã được đồng điệu với dân tộc, gộp sức mạnh của muôn vạn người thành sức mạnh của non sông. Đó là vẻ đẹp hài hòa giữa cái tôi và cái ta, giữa cá nhân và cộng đồng.

Tiếp nối một cách tự nhiên mạch cảm xúc ở hai câu đầu, hai câu sau thể hiện khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước của vị tướng – thi sĩ.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Tư tưởng của Nho gia với lý tưởng “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đã ăn sâu vào trong tiềm thức của những trí thức phong kiến. Tư tưởng đó đã có từ hàng ngàn năm, nó đã phát huy tác dụng cho những “trang nam nhi” nuôi dưỡng chí lớn, khát khao được cống hiến cho xã hội. Ở một khía cạnh nào đó, đây là quan điểm tốt, khiến con người có những ước mơ cao cả hơn. Phạm Ngũ Lão cũng không nằm ngoài “quỹ đạo” chung đó. Chẳng thế mà ông đã để cho lính đâm giáo vào đùi đến chảy máu mà không phản ứng, bởi trong đầu còn bận “ nghĩ về mấy điều trong binh thư”. Mặc dù đã làm đến chức cao, vọng trọng, lập được những chiến công hiển hách uy vang đất trời, nhưng dường như với chí khí của một vị tướng thời đại Đông A, như thế vẫn là chưa đủ.  Hào khí Đông A trong thơ Phạm Ngũ Lão hào hùng trong bối cảnh ấy. Nó bắt nhịp được bước đi của thời đại, của dân tộc trong những giờ phút lâm nguy. Bởi thế cho nên ông vẫn cho rằng “còn vương nợ công danh”. Nợ công danh ở đây có thể hiểu là những việc làm lớn lao cho xã tắc, là sự đền đáp công ơn của ông với triều đại nhà Trần. Đó cũng chính là một trong những đặc điểm nổi bật của thời đại. Bởi thế cho nên Trần Hưng Đạo đã khẳng khái “Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng hàng” khi được hỏi về việc nên chủ hòa hay chủ chiến quân Nguyên. Đó là chí nam nhi của Trần Quốc Toản với lá cờ thêu 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân (phá giặc mạnh, báo ơn vua)". Hào khí Đông A đã được thể hiện trên chiến trường và nay được Phạm Ngũ Lão đưa vào trong thơ ca. Cái sự “hổ thẹn” mà Trần Quốc Toản thể hiện khi bóp nát trái cam và sự “luống thẹn” của Phạm Ngũ Lão thực ra có cùng một điểm chung. Đó là thôi thúc phải làm gì đó cho non sông, đất nước, dẫu là tuổi trẻ hay đã thành danh. Điều đó không ngừng chảy trong huyết quản của những con người thời đại này. Bởi thế cho nên Phạm Ngũ Lão dẫu lập được nhiều công danh vang dội nhưng vẫn cảm thấy mình còn chưa làm tốt, chưa làm hết sức. Ông nhắc tới điển tích Vũ hầu (tức Khổng Minh – Gia Cát Lượng), người đã vì nhà Hán mà 9 lần tiến quân chống Ngụy đến lao lực mà mất, thế nhưng ngay cả khi đã cận kề cái chết, Vũ hầu vẫn đau đáu với nỗi niềm phục hưng nhà Hán. Đó là lý tưởng của một người tận trung, và Phạm Ngũ Lão đã lấy hình ảnh Vũ hầu để nói lên tâm sự của mình. Nỗi “luống thẹn” ấy không làm cho Phạm Ngũ Lão nhỏ bé đi mà trái lại, nó đề cao nhân cách con người. Nỗi thẹn ấy đốt lên trong lòng người ngọn lửa của khát vọng vươn tới cái cao cả lớn lao hơn.

Một bài thơ “Thuật Hoài” dường như là chưa đủ để nói lên cái khí chất “hùng tâm, tráng trí” của Phạm Ngũ Lão, nhưng qua đó đã bộc lộ những nét tiêu biểu của một thời đại hào hùng, thời đại đã sản sinh ra những thánh tướng, những thi sĩ lúc an bình thì cầm bút họa cảnh, lúc nước nhà lâm nguy thì cắp ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông, tựa như mặt hồ lúc yên sóng thì nên thơ lãng mạn, mà khi có cơn gió mạnh bỗng trở nên mạnh mẽ khác thường. Bài thơ “Thuật Hoài” được viết theo lối thất ngôn tứ tuyệt, cả bài thơ chỉ vỏn vẹn có 28 chữ nhưng đã gây nên một nỗi đồng cảm của người đọc với những vị tướng – thi sĩ thời đại nhà Trần.

Thuật hoài là lời “tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão, cũng là tiếng nói cất lên từ một trái tim yêu nước mãnh liệt, thiết tha. Tác giả đã dẫn dắt người đọc đến chỗ bộc lộ nhũng cảm xúc nội tâm sâu kín để bày tỏ tấm lòng yêu nước của tác giả và con người. Đó là “hào khí Đông A”, là cảm hứng yêu nước trong thơ ca thời đại nhà Trần lúc bấy giờ.

 >> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài bài 2

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục